Mục lục bài viết
1. Khái niệm góp vốn thành lập công ty
Nhắc tới công ty có nghĩa là đã nhắc tói một thực thể kinh doanh mà được tạo lập trên cơ sở sự góp vốn của thành viên hoặc các thành viên. Bởi vậy góp vôn là nội dung quan trọng có tính châ't quyết định trong việc thành lập công ty.
Góp vốn hay điều khoản về vốn là một điều khoản thiết yếu của hợp đổng thành lập công ty. Chẳng hạn pháp luật về công ty của Malaysia và Singapore quan niệm: Trừ khi là một công ty có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập của công ty nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn (capital clause) mà trong đó có tuyên bô' về khoản vốn được phép và phân chia vốn đó thành các cổ phần vói sô' lượng ân định trở thành giới hạn mà công ty có thể được phép quyên góp .
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là thực thê’ kinh doanh. Trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý. Do đó góp vốn cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm góp vốn từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý. Nêù như góp vốn, xét từ phương diện kinh'’tế, là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty và bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ, thì góp vốn, xét từ phương diện pháp lý, là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lây quyền lợi công ty. Hành vi đổi lây quyền lợi này khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở chỗ: trong hành vi mua bán hay cho thuê, khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền hưởng dụng tài sản, thì người chuyển giao có quyền lợi là được nhận một khoản tiền từ giá bán hay giá thuê; còn trong hành vi góp vốn, khi chuyển giao quyền sở hữu hay quyền hưởng dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được bâ't kể khoản tiền nào từ việc chuyển giao đó mà chỉ nhận được quyền lợi công ty có thể chuyển đổi thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng hình thức công ty và qui chế riêng có thể có.
Khi người ta góp tài sản vào công ty, thì tài sản đó trở thành đối tượng sở hữu của công ty bởi hành vi thành lập công ty đã tạo ra một thực thể tách biệt hay một pháp nhân có sản nghiệp riêng. Thành viên của công ty có được từ hành vi góp vôn này một quyêh lợi đôì với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình xét theo lẽ thông thường. Đôì với công ty cô’ phần, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào loại cô’ phần được quy định trong họp đồng thành lập công ty hay điều lệ của công ty mà vốn của nó được chia ra thành các cổ phần .
Quan niệm góp vốn theo phưong diện pháp lý đã đặt ra hai vâh đề lớn cẩn tìm hiểu. Đó là hình thức góp vốn và quyền lợi có được từ việc góp vốn.
2. Hình thức góp vốn
"Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thêTà tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyêh sử dụng đâ't, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vấn của công ty".
Nhận xét sơ bộ, các qui định này chỉ đề cập tói việc góp vốn bằng tài sản và liệt kê các loại tài sản được góp vốn. Tuy nhiên, để tránh sự liệt kê không đầy đủ, các qui định này còn mở ra một khoảng rộng cho các bên trong họp đồng thành lập công ty tự do thoả thuận xác định những loại tài sản khác được góp vốn.
Có thế hiểu góp vôn có thê’ bằng tài sản, tri thức hoặc hoạt động hay công việc. Đó chính là các hình thức góp vốn mà cần phải nghiên cứu dưới giác độ pháp lý.
2.1 Góp vốn bằng tài sản
Tài sản được quan niệm ở Việt Nam hiện này là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Nhưng các nước trên thế giới đều có khuynh hướng quan niệm tài sản bao gồm: bất động sản hữu hình; bất động sản vô hình; và động sản hữu hình; động sản vô hình. Ví dụ: Bộ luật Dân sự Quebec (Canada) xác định: "Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bâ't động sản và động sản" (Điều 899); Theo Bộ luật Dân sự của Tiểu Bang Louisiana (Hoa Kỳ), "Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bâ't động sản".
Tài sản là một khái niệm động. Hiện nay có nhiều tranh luận về các dạng mới của động sản như giọng hát của ca sĩ, tinh dịch đông lạnh, bào thai người, tế bào được tách ra từ các bộ phận cơ thể, thông tin di truyền, tính cách cá nhân, các sản phẩm của trí tuệ... Nhìn từ góc độ khác, có thể thâỳ tài sản là công cụ của đời sông xã hội. Vậy khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần tuý có tính cách học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích râ't cao. Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội. Tài sản không thể được xem xét tách rời các giá trị xã hội. Khái niệm tài sản được thay đổi theo các giai đoạn lịch sử. Chẳng hạn nô lệ được xem là tài sản trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, nhưng ngày nay các sản phẩm của tư tưởng, của trí tuệ cũng được xem là tài sản. Đặc biệt, sở hữu trí tuệ đang là một đặc trưng nổi bật của nền kinh tế hậu công nghiệp hay kinh tế tri thức. Tóm lại, từ những rắc rối của khái niệm tài sản nêu trên, xét từ giá trị kinh tế của tài sản, có thê’ nói tâ't cả các vật châ't liệu và các quyền mà có thê’ khai thác mang lại giá trị kinh tế hay có thê’ trị giá được bằng tiền đều có thể được coi là tài sản dùng đê’ góp vốn.
Góp vổh bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất bởi không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được, về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thê’ đem góp làm vốn của công ty, tuy nhiên còn lệ thuộc vào từng sự thoả thuận cụ thể trong các hợp đổng thành lập công ty. Tài sản góp vốn có thê’ thuộc bâ't kê’ dạng nào: vật châ't liệu hay các quyền vô hình, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyên giao trong giao lưu dân sự một cách họp pháp, bởi bản thân góp vốn đã là một hành vi chuyển giao tài sản, do đó phải tuân thủ những qui tắc chung có liên quan tới việc chuyển giao tài sản. Căn cứ vào việc chuyển giao, người ta chia các hình thức góp vốn bằng tài sản thành một sô' loại để nghiên cứu và qui định như -gqp von bằng tiền, góp vốn bằng vật châ't liệu và góp vốn bằng quyền.
2.2 Góp vốn bằng tri thức
Trong nền kinh tê'tri thức, người ta thường nhắc tói các yêù tô' lớn nhất đang làm biến đổi các nước trên thê'giới. Đó là chủ nghĩa tư bản tài chính (finance capitalism), chủ nghĩa tư bản tri thức (knowlege capitalism) và chủ nghĩa tư bản xã hội (social capitalism) mà tại đó chủ nghĩa tư bản được hiểu là một cuộc vận động làm phát sinh ra các ý tưởng mói và đưa chúng vào các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực thương mại . Vậy góp vốn bằng tri thức trở thành một vân đề trọng yếu của nền kinh tế công nghiệp, và kinh tế hậu công nghiệp hay kinh tế tri thức.
Ngày nay người ta thường nhân mạnh tói sở hữu trí tuệ. Chúng được xem là một bộ phận quan trọng của tri thức. Điều đó có nghĩa là khái niệm tài sản và khái niệm tri thức có sự giao thoa, nhưng không trùng khít với nhau. Nêù định nghĩa tri thức trên phương diện hành vi có thể quan sát được, thì tri thức là khả năng của một cá nhân hay của một nhóm thực hiện, hoặc chỉ dân, xui khiến những người khác thực hiện các quy trình nhằm tạo ra các sự chuyển hoá có thể dự báo được của các vật liệu. Tri thức có thể được điển chế hoá và có thể sao chép hoặc có thể ở dưới dạng ẩn không thể sao chép khi ở trong đầu của các cá nhân hoặc các chu trình hoạt động của các doanh nghiệp . Những tri thức ẩn không thể điển chế hoá được, nên khó có thể mua và bán. Tri thức ẩn được biểu hiện ở vốn nhân lực và tổ chức, nên mang đến cách thức góp vốn khác vói cách thức góp vốn bằng tài sản. Khi nghiên cứu về kinh tế tri thức, người ta nhận định rằng: Khả năng tri thức "ngầm" quan trọng nhất có lẽ là khả năng học hỏi liên tục và đạt tới những kỹ năng mới . Do đó góp vốn bằng tri thức, cụ thể hơn, tri thức ẩn, là góp vốn bằng chính khả năng như nghiên cứu thị trường, tổ chức sản xuâ't, kinh doanh, các phản ring nhạy bén với thị trường...
Vậy người góp vốn bằng tri thức phải bảo đảm rằng mang tri thức của mình ra phục vụ một cách mẫn cán và trung thực cho lợi ích của công ty, có nghĩa là người đó phải thực hiện một nghĩa vụ mẫn cán và trung thực (hay còn được gọi là nghĩa vụ cần mẫn tổng quát) cho trái chủ là công ty do chính người đó cam kết lập ra.
Tuy nhiên việc góp vốn bằng tri thức- một khả năng trừu tượng, sẽ mang lại khó khăn trên nhiều phương diện như: tính trị giá phần vốn góp để chia sẻ quyền lợi công ty; chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ của người góp vốn. Những khó khăn này có lẽ lệ thuộc hoàn toàn vào sự đánh giá và thoả thuận của các thành viên công ty. Tại đây cẩn phải nhân mạnh rằng, tri thức khi được góp vôn hoàn toàn không biêh khỏi các thành viên góp nó, có nghĩa là nó chỉ tổn tại nơi các thành viên và càng được sử dụng thì càng được củng cô' và phát triển. Vậy việc bảo đảm cho sự độc quyền sử dụng các tri thức đó của công ty là một vâh đề lớn cần tới sự trung thực của người góp vốn. Sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác với nhau có lẽ là một yêu cẩu có tính thiết yếu trong nền kinh tế hậu công nghiệp và kinh tế tri thức hiện nay.
2.3 Góp vốn bằng hoạt động hay công việc
Ớ trên đã nghiên cứu, hợp đồng thành lập công ty là một căn cứ làm phát sinh ra nghĩa vụ của các thành viên công ty. Và hiểu rằng, đôì tượng của nghĩa vụ bao gồm: chuyển giao quyền sở hữu, làm hoặc không làm một công việc nào đó. Vì vậy cam kết thực hiện những hành vi cụ thể có thể trị giá được bằng tiền theo quan niệm của luật nghĩa vụ cũng được xem là góp vốn. Có quan niệm cho rằng, góp vốn bằng công lao hay việc làm phải là góp vốn bằng một công việc điều khiêh, chỉ huy mà không phải là công việc của người thừa hành, vì công ty có nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên . Tuy nhiên, ngày nay nhiều học giả của Hoa Kỳ quan niệm rằng, tính hiệu quả phải được đề cao trong luật công ty thay vì đã đề cao tính bình đẳng, công bằng giữa các thành viên của công ty trong nhiều thế kỷ .
Có thể dễ dàng nhận thâỳ rằng, công sức lao động không có gì đặc biệt sẽ khó có thể được đóng góp vào công ty để trở thành một trong những ông chủ của nó, vì công ty dễ dàng mua được công sức lao động như vậy với giá hợp lý mà không phải trả lãi và chia sẻ quyền lực quản lý của các thành viên khác trong công ty. Nhưng tại đây cỏ hai trường hợp cần lưu ý: (1) Công sức được bỏ ra có thành tố tri thức hoặc kinh nghiệm; (2) Người góp vốn bằng công sức được tin tướng hon những người khác trong một công ty đổi nhân. Trường hợp thứ nhất có thê’ dễ gây nhầm lẫn với góp vốn bằng tri thức. Tuy nhiên, nêù thành tố tri thức ít hon so với lao công, thì có thể nói, việc góp vốn đó là góp vốn bằng công việc. Trường hợp thứ hai phụ thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của các thành viên.
Đối với việc góp vốn bằng công sức, nhiều nền tài phán xem là phẩn góp vốn nhỏ nhất. Chẳng hạn Bộ luật Dân sự 1972 đã nói dự liệu:
"Nếu khế ước không phân định kỷ phần lỗ lãi cho mỗi hội viên, kỷ phần ây sẽ tính theo tỷ lệ phần hùn của mỗi người đã góp vào hội.
Đôì với người đã góp phần hùn bằng công lao, phần này sẽ coi như phần hùn nhỏ nhất bằng tài sản" (Điều thứ 1277).
Các qui định này cho thâỳ giá trị của công sức góp vào công ty râ't khó trị giá chính xác bằng tiền. Vì vậy các thành viên tự thoả thuận về giá trị của nó để bù đắp lại bằng quyển lợi công ty.
2.4 Định giá tài sản góp vốn
Trường họp định giá tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động của công ty mà do tổ chức định giá chuyên nghiệp tiêh hành, thì giá trị tài sản góp vôn phải được người góp vốn và công ty châp thuận. Nếu tài sản góp vôn được định giá cao hơn giá trị thực tê' tại thời điểm góp vốn thì cũng dẫn đến hậu quả pháp lý là người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đôì với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.
Việc định giá tài sản góp vốn là quan trọng bởi mục đích của nó là đê’ bảo đảm cho người góp vốn có được quyền lợi công ty tương ứng nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các thành viên công ty và bảo đảm quyền lợi của người thứ ba. Nhiểu nền tài phán không cho phép thành viên hay cổ đông góp vôn bằng tài sản phải định giá được tham dự vào việc biểu quyết việc định giá tài sản góp vốn đó. Họ chi có thể phát biểu ý kiêh và giải thích các vâh đề liên quan tới tài sản định giá. Riêng đối với công ty cổ phần, các thành viên tham gia định giá không phải chịu trách nhiệm trước người thứ ba, trù' trường hợp có sự gian trá hoặc giá trị sai biệt quá mức.
2.5 Chuyển quyền sờ hữu tài sản góp vốn cho công ty
Góp vốn như trên đã nghiên cứu có thể bằng các tài sản khác nhau, do đó việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty cũng phải chịu áp lực của các qui chế pháp lý khác nhau điều tiết việc chuyển dịch của từng loại tài sản. Chẳng hạn việc chuyển nhượng quyền sử dụng đâ't có các yêu cầu riêng của pháp luật; cũng như vậy đối với nhà cửa, công trình, sản nghiệp thương mại, quyền sở hữu trí tuệ... Việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty đê’ đổi lây quyền lợi công ty và trở thành chủ sở hữu chung của công ty càng khiên cho nó trở lên phức tạp, chưa kể đến công ty là một thực thê’ nhân tạo chưa được vận hành ổn định khi đang trong quá trình thành lập. Vì vậy pháp luật phải qui định riêng biệt về mặt thủ tục và hình thức chứng cứ của việc đó.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê