1. Tác phẩm “Tính chất công việc của giám đốc” của Henry Mintzberg
- Thứ nhất, chúng ta nói qua về ông Henry Mintzberg là một nhà quản lý người Canada, thuộc trường phái nghiên cứu về vai trò của giám đốc trong khoa học quản lý phương Tây. Ông tốt nghiệp đại học chuyên ngành cơ khí năm 1961, cử nhân văn chương năm 1962, đỗ thạc sĩ quản trị kinh doanh năm 1965 và tiến sĩ quản lý năm 1968. Vào năm 1997, Giáo sư Mintzberg được bổ nhiệm làm Cán bộ của Lệnh Canada . Năm 1998, ông được bổ nhiệm làm Cán bộ của Trật tự Quốc gia Quebec . Ông hiện là thành viên của Hiệp hội Quản lý Chiến lược.
Ông Mintzberg điều hành hai chương trình tại Khoa Quản lý Desautels được thiết kế để giảng dạy cách tiếp cận thay thế của ông đối với việc lập kế hoạch chiến lược và quản lý: Chương trình Thạc sĩ Quốc tế về Quản lý Thực hành (IMPM) [6] liên kết với Viện Điều hành McGill và Chương trình Thạc sĩ Quốc tế về Y tế Lãnh đạo (IMHL). Với Phil LeNir, ông sở hữu Coaching Ours yourself International , một công ty tư nhân sử dụng phương pháp thay thế của mình để phát triển quản lý trực tiếp tại nơi làm việc.
Ông là giáo sư trường Đại học Me. Kenzie (Canada) trong một thời gian dài, ủy viên ban biên tập của tạp chí “Quản lý chiến lược”, tạp chí “Nghiên cứu quản lý”, tạp chí “Quản lý nói chung, dân chủ trong kinh tế và công nghiệp”, tạp chí “Quản lý hành chính”, tạp chí “Chiến lược thương mại”, đồng thời là ủy viên Hội nghiên cứu của Hoàng gia Canada.
Đối với các tác phẩm của ông Henry Mintzberg gồm có: “Tính chất công việc của giám đốc”, “Quyền lực bên trong và bên ngoài của tổ chức”, “Xây dựng quyết sách chiến lược”, “Sự hình thành chiến lược về lổ chức”.
Ngoài ra, ông đã phát biểu nhiều luận văn về quản lý, trong đó có luận văn “Truyền thuyết và sự thật về công việc của giám đốc” và luận văn “Vừa xây dựng kế hoạch, vừa thực hiện quản lý” đăng trên tạp chí “Bình luận thương mại Harvard”, là hai luận vãn đã được giải thưởng luận văn hay nhất.
- Thứ hai, về tác phẩm “Tính chất công việc của giám đốc” là tác phẩm chủ yếu của óng và là tác phẩm kinh điên của trường phái nghiên cứu vai trò giám đốc.
Với cấu trúc của tác phẩm này, ngoài lời nói đầu, cuốn sách gồm có 7 chương: Chương 1: Lời dẫn; Chương 2: Giới thiệu các quan điểm đương đại về chức vụ giám đốc; Chương 3: Những đặc điểm nổi bật về công việc của giám đốc; Chương 4: Vai trò mà giám đốc đảm nhiệm; Chương 5: Những thay đổi trong công việc của giám đốc; Chương 6: Những chức vụ khoa học và chức vụ giám đốc; Chương 7: Triển vọng công việc của giám đốc.
Trong chương 1, tác giả chủ yếu trình bày mục đích và cơ cấu cuốn sách, bình luận về các tài liệu liên quan đến vấn đề này. Nội dung chính của cuốn sách (từ chương 3 đến chương 6) là nhũng đặc điềm về công việc của giám đốc, vai trò mà giám đốc đảm nhận, sự khác biệt về công việc của các loại giám đốc và các chức vụ giám đốc khác nhau, mối quan hệ giữa chức vụ giám đốc và khoa học quản lý. Chương 7 là sự tổng kết toàn bộ kết quả điều tra.
=> Kết luận: Đối với tác phẩm “Tính chất công việc của giám đốc” là tác phẩm chủ yếu của ông Henry Mintzberg và là tác phẩm kinh điển của trường phái nghiên cứu vai trò giám đốc.
Cuốn sách này đã nêu lên một cách toàn diện những đặc điểm công việc của giám đốc; Vai trò mà giám đốc đảm nhiệm, những thay đổi trong công việc của giám đốc, những loại hình chức vụ của giám đốc; Bí quyết nâng cao hiệu quả công việc của giám đốc; Triển vọng về công việc của giám đốc; Đồng thời đánh giá các quan điểm của những trường phái quản lý khác về chức vụ giám đốc. Sở dĩ người ta gọi ông và những người theo ông là “Trường phái nghiên cứu vai trò của giám đốc” vì họ lấy vai trò mà giám đốc đảm nhiệm làm trung tâm để phân tích chức năng và công việc của giám đốc nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
2. Giám đốc là gì?
Danh từ “giám đốc” mà được nói ở đây là người phụ trách chủ yếu trong một tổ chức chính thức hoặc một đơn vị của lổ chức đó và là những người có chức vị, có quyền lực chính thức trong tổ chức ấy.
Theo từ điển bách khoa, giám đốc là một người từ một nhóm người quản lý dẫn dắt hoặc giám sát một khu vực cụ thể của một công ty. Các công ty sử dụng thuật ngữ này thường có nhiều giám đốc trải rộng trên các chức năng hoặc vai trò kinh doanh khác nhau (ví dụ: giám đốc nhân sự). Giám đốc thường báo cáo trực tiếp cho phó chủ tịch hoặc giám đốc điều hành trực tiếp để cho họ biết tiến độ của tổ chức. Các tổ chức lớn đôi khi cũng có trợ lý giám đốc hoặc phó giám đốc. Giám đốc thường đề cập đến cấp điều hành thấp nhất trong một tổ chức, nhưng nhiều công ty lớn sử dụng chức danh phó giám đốc thường xuyên hơn. Một số công ty cũng có giám đốc vùng và giám đốc khu vực. Giám đốc vùng có mặt tại các công ty được tổ chức theo địa điểm và có phòng ban của họ theo đó. Họ chịu trách nhiệm về các hoạt động cho quốc gia cụ thể của họ. Mặc dù các giám đốc là giai đoạn đầu tiên trong nhóm điều hành, giám đốc khu vực được coi là cao hơn, dựa trên khu vực kiểm soát của họ.
Sẽ tùy thuộc vào quy mô của một tổ chức hoặc một công ty, số lượng giám đốc có thể khác nhau. Các công ty mới thành lập có thể có một giám đốc duy nhất, tối thiểu cho một công ty tư nhân theo luật định. Tuy nhiên, khi các tổ chức và doanh nghiệp mở rộng, số lượng giám đốc có thể tăng lên vì có quá nhiều nhiệm vụ và trách nhiệm. Ví dụ, nếu công ty mở rộng và có nhiều bộ phận, như tài chính, bán hàng, tiếp thị, sản xuất và công nghệ thông tin, thì doanh nghiệp có thể thành lập ban giám đốc, với mỗi giám đốc giám sát một bộ phận và duy trì trách nhiệm hoàn toàn trong bộ phận đó.
Một ban giám đốc đảm bảo rằng một cấu trúc vạch ra rõ ràng được đặt ra sẽ giúp doanh nghiệp làm việc hiệu quả hơn nhiều.
Các doanh nghiệp và tổ chức lớn sẽ tạo thành một cấu trúc ban giám đốc cụ thể như sau:
- Chủ tịch - Vai trò đặc biệt này trong công ty thường là một vai trò không điều hành cũng có nhiệm vụ giám sát toàn bộ doanh nghiệp hoặc tổ chức.
- Giám đốc quản lý - Một giám đốc quản lý được tuyển dụng bởi doanh nghiệp, thường là do chủ tịch. Các vai trò khác bao gồm điều hành doanh nghiệp và xuất lương. Giám đốc quản lý quản lý ban giám đốc, giám sát hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo lại cho Chủ tịch.
- Giám đốc điều hành - Một nhóm các giám đốc điều hành, những người từng đóng một vai trò quan trọng trong công ty. Họ duy trì trách nhiệm hoàn toàn đối với các phòng ban tương ứng như Tài chính, Tiếp thị và Bán hàng. Mỗi giám đốc quản lý bộ phận của họ đảm bảo rằng các nhiệm vụ và mục tiêu đang được đáp ứng. Giám đốc điều hành cũng nằm trong Ban giám đốc.
- Giám đốc không điều hành - Những người này tư vấn cho doanh nghiệp bằng cách đề xuất các hình thức chiến lược khác nhau và cũng quyết định thù lao của các giám đốc điều hành.
Có một cơ cấu rõ ràng trong doanh nghiệp có tác động tích cực đến nhân viên và nó cũng giúp tổ chức kinh doanh. Bằng cách có một đội ngũ giám đốc điều hành, nhân viên có thể báo cáo với giám đốc điều hành của họ nếu có vấn đề hoặc vấn đề xảy ra.
3. Quản lý
Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định.
Quản lý được hiểu là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Thuật ngữ "quản lý" cũng có thể chỉ những người quản lý một tổ chức.
Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lí điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước. Để thực hiện hoạt động quản lí cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung; quyền uy đem lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lí đối với các đối tượng quản lí, bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lí điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình.
- Về chủ thể quản lí là cá nhân hay tổ chức - những đại diện có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lí.
- Về khách thể của quản lí là trật tự quản lí. Trật tự quản lí được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật... tuỳ theo từng loại hình quản lí.
- Đối với chức năng quan trọng nhất vận hành thường xuyên bằng bộ máy nhà nước bảo đảm mọi hoạt động của xã hội cũng như trên từng linh vực đời sống xã hội vận động theo một hướng, đường lối nhất định do Nhà nước định ra.
- Về quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
4. Lý giải sự tăng lên quy mô và tính chất phức tạp của tổ chức theo Henry Mintzberg
Trong chương “Khoa học quản lý và giám đốc” này, tác giả chủ yếu trình bày mối quan hệ giữa giám đốc và khoa học quản lý. Trong thời đại hiện nay, quy mô và tính chất phức tạp của tổ chức đều tăng lên nhanh chóng.
Nguyên nhân cơ bản của tình hình này là ngày nay, các xí nghiệp đã có đủ những phương tiện kỹ thuật hoàn thiện. Sự phát triển của khoa học xã hội, nhất là khoa học quản lý, phải thích ứng với sự mở rộng của cơ cấu tổ chức, đặc biệt là trong những khâu có liên quan đến công chúng.
Những quyết định mà các tổ chức hiện đại đưa ra đang trở nên vô cùng quan trọng.
5. Lĩnh vực giám đốc nhận được sự hợp tác theo Henry Mintzberg
Theo Henry Mintzberg, Giám đốc có thể nhận được sự hợp tác của các nhà khoa học về quản lý trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong 7 lĩnh vực sau:
a. Phát hiện vấn đề và tìm kiếm cơ hội
Các nhà khoa học về quản lý có thể giúp giám đốc phát hiện vấn đề và tìm kiếm cơ hội, nhưng không nên chỉ dừng lại ở chỗ cung cấp cho giám đốc những xu hướng mới và những số liệu đang trong quá trình biến động mà phải nêu ra được những vấn đề và cơ hội hàm chứa trong nhũng số liệu đó.
b. Phán tích giá thành, hiệu quả
Điều này sẽ tãng cường khả năng lựa chọn của giám đốc.
c. Xây dựng mô hình
Điều này sẽ có ích cho việc bồi dưỡng năng lực phân tích của giám đốc.
d. Vạch kế hoạch xử lý những sự kiện phát sinh lâm thời
Bởi vì giám đốc thường không có thời gian để chuẩn bị trước những đối sách cho những sự kiện đó.
e. Phân tích tức thời
Điều này có nghĩa là tiến hành phân tích những cơ hội và thách thức đột nhiên xuất hiện.
f. Giám sát việc cải tiến công tác
Lĩnh vực cuối cùng là làm cho kê hoạch thích ứng với tình hình, khiến giám đốc có thể chủ động trước hoàn cảnh thường xuyên biến đổi.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)