Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.

1. Khái niệm nguyên tắc xây dựng pháp luật

Nguyên tắc xây dựng pháp luật là hệ thống các tư tưởng, quan điểm mang tính chỉ đạo, quán triệt toàn bộ hoạt động của quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi các nhà làm luật phải tuân theo. Đây là những cơ sở quan trọng, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các qui phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo. Việc đáp ứng các nguyên tắc là những yêu cầu cơ bản, đầu tiên, cốt lõi trong hoạt động xây dựng pháp luật, nhằm định hướng cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật chuẩn mực.

Theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm có:

2. Nguyên tắc khách quan trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc khách quan trong hoạt động xây dựng pháp luật là việc xây dựng pháp luật phản ánh được hiện thực khách quan. Theo đó, pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội, trình độ dân trí, điều kiện quốc tế và xu hướng phát triển của thời đại, để từ đó, pháp luật trở thành công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, là khuôn mẫu hành vi mang tính chất chuẩn mực, những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà mọi cá nhân tổ chức trong xã hội phải tuân theo. Pháp luật là phương tiện có hiệu lực nhất để điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản giữa người với người, các lợi ích, nhu cầu của các giai cấp tầng lớp xã hội khác nhau, bảo vệ trật tự xã hội cộng đồng, điều tiết các quan hệ văn hoá, giáo dục, xã hội, khoa học công nghệ theo hướng tiến bộ phù hợp với sự phát triển của đất nước, đem lại lợi ích tối đa cho xã hội.

Bảo đảm tính khách quan là đặc trưng cơ bản trong mọi hoạt động của nhà nước, nhằm đảm bảo sự cân đối hợp lý không mâu thuẫn của sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội. Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật phải dựa trên nguyên tắc khách quan mới bảo đảm sự kịp thời và phù hợp với yêu cầu vận động và phát triển của xã hội. Bất cứ một xã hội nào thì việc xây dựng pháp luật cũng đều phải dựa trên quy luật khách quan, trình độ của hệ thống pháp luật phải phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Đồng thời, pháp luật cũng sinh ra do nhu cầu thực tế của xã hội của xã hội do đó, nó phải phản ánh đúng nhu cầu khách quan của xã hội, xuất phát từ thực tế cuộc sống, phù hợp với thực tế cuộc sống và dựa trên lợi ích của nhân dân. Nếu không dựa trên cơ sở khách quan thì sẽ không xây dựng được hệ thông pháp luật đúng nghĩa, pháp luật không được coi là xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và quan trọng hơn, nó làm mất đi chức năng điều tiết xã hội của pháp luật.

Bên cạnh đó, nếu không đạt được yêu cầu về tính khách quan thì các nguyên tắc khác trong hoạt động xây dựng pháp luật như Nguyên tắc đồng bộ thống nhất, Nguyên tắc pháp chế, Nguyên tắc dân chủ… cũng không được đảm bảo. Nguyên tắc này được quy định nhằm ban hành ra những quy định pháp luật khách quan, không duy ý trí của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nếu pháp luật không xuất phát từ hiện tại khách quan sẽ không có sự đồng bộ thống nhất giữa hệ thống pháp luật và trình độ phát triển kinh tế.

3. Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội, xây dựng các chủ trương, chính sách để phát triển xã hội. Do đó, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Đường lối chính sách của Đảng luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng pháp luật của nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết, là bảo đảm cao nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của nhà nước. Mọi hoạt động của nhà nước đều có sự lãnh đạo của Đảng trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật đó là yêu cầu có tính khách quan và trở thành nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Hay nói cách khác, hoạt động xây dựng pháp luật là kênh quan trọng nhất mà thông qua đó, chủ trương và chính sách của Đảng được đưa vào đời sống.

Trong công tác xây dựng pháp luật, Đảng lãnh đạo bằng cách đưa ra đường lối đúng đắn và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khách quan của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng mà có những chủ trương, biện pháp cho phù hợp từ đó nhà nước có cơ sở cho việc cụ thể hoá thành những quy định pháp luật. Muốn vậy Đảng phải nắm chắc qui luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội, thực trạng của nền kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội trong nước và những quan hệ đối ngoại thì đường lối của Đảng được đề ra sẽ luôn có tính khoa học, phù hợp với quy luật phát triển xã hội và dễ được thực hiện nhất.

Đảng thông qua nhà nước đào tạo và tuyển chọn những người có đức, tài, có năng lực vào các cơ quan nhà nước, có đủ năng lực chuyên môn và trình độ pháp lý làm công tác xây dựng pháp luật, biết thể chế hoá một cách đúng đắn đường lối chủ trương đó thành pháp luật của nhà nước.

Thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước, Đảng kiểm tra giám sát nắm tình hình và đánh giá các hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước, góp ý kiến cho nhà nước sửa chữa những lệch lạc thiếu sót trong công tác này. Thông qua công tác này Đảng còn kiểm tra, kiểm nghiệm được sự đúng đắn của các chính sách của Đảng trong hoạt động của nhà nước để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

Đảng lãnh đạo nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật, kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà nước, tạo mọi điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình về mọi mặt.

4. Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật được hiểu là sự tham gia của nhân dân lao động và các tổ chức xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật. Đây là một nguyên tắc đòi hỏi trong quá trình xây dựng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền phải tạo điều kiện cho nhân dân có thể tham gia một cách đông đảo và rộng rãi vào quá trình thảo luận các quy phạm pháp luật dự thảo, phải đề cao tầng lớp nhân dân lao động và các tổ chức của họ trong hoạt động xây dựng pháp luật và giải quyết những vấn đề của hoạt động đó. Điều này nhằm làm cho pháp luật thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, phát huy được trí tuệ của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội và hoạt động xây dựng pháp luật, để pháp luật trở nên gần gũi hơn với nhân dân. Mặt khác, nguyên tắc này cũng tạo điều kiện cho nhân dân tìm hiểu và hiểu được nội dung các quy định của pháp luật, nhất là các quy định có liên quan tới các hoạt động hàng ngày của họ, nhờ đó góp phần làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm túc hơn, đồng thời nâng cao hơn ý thức pháp luật của nhân dân.

Nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích và ý chí của nhân dân lao động. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền lực, lợi ích thuộc về nhân dân, sức mạnh và quyền lực đều nằm trong dân. Đó chính là cơ sở chính trị chứng tỏ dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng pháp luật Việt Nam. Do đó, nhân dân có quyền làm chủ, có quyền được tham gia vào tất cả các hoạt động xây dựng nhà nước, xây dựng pháp luật. Việc tham gia vào xây dựng pháp luật cũng là cách nhân dân phát huy vai trò làm chủ, tích cực chủ động trong hoạt động quản lý xã hội của mình. Quần chúng, nhân dân càng tham gia rộng rãi và tích cực vào công việc xây dựng pháp luật thì các quy định pháp luật càng đảm bảo đầy đủ và toàn diện hơn lợi ích, ý nguyện của họ. Nhân dân tham gia xây dựng pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau như bầu các đại biểu tham gia hoạt động vào các cơ quan nhà nước các đại biểu này có quyền quyết định những vấn đề cơ bản của công tác xây dựng pháp luật. Thông qua các tổ chức xã hội thực hiện phản biện dự án luật, đóng góp ý kiến cho cơ quan, tổ chức để trình dự án luật.

Để đảm bảo được nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật phải thực hiện tốt việc nâng cao dân trí trong xã hội, mở rộng các kênh truyền thông về pháp luật, cần có chủ trưởng triển khai các cuộc vận động, tuyên truyền một cách cụ thể về nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật, tăng cường lấy ý kiến nhân dân trong các dự thảo văn bản pháp luật. Như vậy, ý chí và nguyện vọng của nhân dân mới thực hiện được rõ rệt, từ đó nhá nước mới có thể vì nhân dâ phục vụ tốt hơn. Đồng thời, phải công khai các hoạt động lập pháp. Các đại biểu Quốc hội phải là đại biểu cho toàn dân. Ý kiến của đại biểu thiểu số phải được ghi lại và công bố cho cử tri, để cho cử tri biết được đại biểu mà họ bầu lên có hoàn thành nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi cho họ không.

5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng pháp luật được hiểu là các cơ quan xây dựng pháp luật không được ban hành những văn bản không đúng thẩm quyền của mình, phải tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật. Các văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, văn bản dưới luật phải phù hợp với hiến pháp và các văn bản luật, đảm bảo tính thứ bậc của hệ thống văn bản pháp luật.

Như vậy, nguyên tắc pháp chế trong xây dựng pháp luật được thể hiện ở hai nội dung cơ bản:

- Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành pháp luật. Để đảm bảo các quy định pháp luật khi đã được ban hành có giá trị pháp lý, thì chúng phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục về nội dung cũng như hình thức. Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước chỉ được ban hành những văn bản pháp luật phù hợp với thẩm quyền của mình, theo một trình tự thủ tục luật định, với những hình thức qui định trong Hiến pháp và các đạo luật.

- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các quy định pháp luật phải thống nhất với nhau không mâu thuẫn chồng chéo, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và phải tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật về nội dung, thẩm quyền, phạm vi và hình thức thể hiện.

6. Nguyên tắc khoa học trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc này nêu ra yêu cầu về cả nội dung hình thức thể hiện của các quy định pháp luật. Về nội dung các quy định pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở những thành tựu khoa học mới nhất, về hình thức bố cục, cấu trúc, cách thức trình bày các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật... phải mang tính khoa học. Hay nói cách khác, các quy định pháp luật phải đảm bảo được kỹ thuật pháp lý. Xây dựng pháp luật trên cơ sở khoa học chính là điều kiện để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả thực tế của các văn bản, quy phạm pháp luật

Nguyên tắc khoa học là yêu cầu chung đối với hoạt động xây dựng pháp luật, nó cho phép loại trừ những mâu thuẫn của pháp luật, bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật. Tính khoa học trong hoạt động xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nhận thức đựơc qui luật khách quan của xã hội, biết sử dụng những thành tựu của các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý, biết phân tích dự đoán đúng đắn các số liệu về kinh tế, kỹ thuật... phục vụ công tác xây dựng pháp luật. Mỗi một quy phạm phải được sắp xếp lôgic, hợp lý, mang tính hệ thống trong văn bản. Nội dung văn bản phải chính xác, biểu đạt rõ ràng, dễ hiểu. Tính khoa học còn được biểu hiện ở kế hoạch xây dựng pháp luật chặt chẽ và có tính khả thi, các hình thức thu thập tin tức, xử lý thông tin, tiếp thu ý kiến của nhân dân, ở việc thông qua, công bố văn bản pháp luật...

Xây dựng pháp luật cần phải dựa trên những luận cứ khoa học đầy đủ, chứ không phải do ý chí chủ quan của các nhà làm luật. Chẳng hạn, các quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn đối với nam và nữ là là bao nhiêu nhà làm luật phải xem xét về mặt khoa học, căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, sự trưởng thành về cả sinh lý lẫn tâm lý con người…

7. Nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa và đồng thuận

Nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa và đồng thuận về lợi ích giữa các lực lượng xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

Pháp luật phụ thuộc ý chí của nhà nước, xuất phát từ lợi ích nhà nước, giai cấp, dân tộc. Tuy nhiên, để giữ cho xã hội ổn định, pháp luật được mọi người tôn trọng và thực hiện thì Nhà nước phải luôn chú ý bảo đảm sự hài hoà về mặt lợi ích của các lực lượng khác nhau trong quá trình ban hành pháp luật.

Việc bảo đảm hài hoà về lợi ích giữa các lực lượng xã hội sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật, bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích cơ bản giữa các lực lượng xã hội, làm cho xã hội ổn định, đoàn kết và phát triển bền vững.

Khi xây dựng pháp luật đòi hỏi phải cân nhắc được các loại lợi ích của tất cả những đối tượng được văn bản pháp luật điều chỉnh. Đồng thời phải làm sao cho các loại lợi ích không mâu thuẫn, không phủ nhận lẫn nhau, đảm bảo tương đối công bằng xã hội, với tinh thần tất cả vì con người, cho con người.

8. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi trong hoạt động xây dựng pháp luật

Quá trình xây dựng pháp luật luôn phải chú ý để làm sao các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trên thực tế. Sự phù hợp với các điều kiện thực tế bảo đảm cho quy định pháp luật có thể thi hành được trên thực tế. Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành trong thực tế hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả.

Trân trọng!