1. Chuyển hộ khẩu và quyền nuôi con sau khi ly hôn?

Thưa luật sư. Xin hỏi tôi lấy chồng mấy năm rồi nhưng hộ khẩu của tôi vẫn còn ở nhà bố mẹ đẻ. Nay chồng tôi yêu cầu tôi phải cắt khẩu về nhà chồng. Tôi muốn hỏi nếu tôi chuyển khẩu về nhà chồng, nhưng sau này giả sử vợ chồng tôi không còn sống chung lúc đó tôi muốn chuyển khẩu hai mẹ con về lại hộ khẩu của bố mẹ đẻ tôi được không? Nếu ly hôn tôi có mất quyền nuôi con không?
Tôi xin cảm ơn.

Chuyển hộ khẩu và quyền nuôi con sau khi ly hôn?

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trong trường hợp sau này ly hôn, bạn muốn chuyển hộ khẩu từ nhà chồng về hộ khẩu cũ của bố mẹ đẻ. Thì trường hợp này, bạn phải thực hiện 2 thủ tục: là thủ tục tách sổ hộ khẩu và thủ tục nhập vào sổ hộ khẩu cũ.

Về vấn đề này, Luật cư trú năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2013Văn bản hợp nhất 03/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật cư trú do Văn phòng Quốc hội ban hành quy định:

Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trình tự, thủ tục tách sổ hộ khẩu:

Hồ sơ để xin tách sổ hộ: (Theo khoản 2, Điều 27 Luật cư trú)

+ Sổ hộ khẩu;

+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

+ Ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật cư trú.

Nơi nộp hồ sơ:

+ Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã.

+ Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời gian giải quyết: Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do theo Khoản 3, Điều 27 Luật cư trú 2006.

Trình tự, thủ tục nhập vào khẩu cũ:

Căn cứ tại Điều 21 Luật Cư trú quy định về đăng ký thường trú như sau:

Thủ tục đăng ký thường trú

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a)Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này."

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Như vậy, khi bạn muốn thực hiện thủ tục nhập khẩu và hộ khẩu nhà bố mẹ đẻ thì cần thực hiện theo hướng dẫn và được sự đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của chủ hộ nơi đến (bố, mẹ đẻ của bạn). Nơi tiếp nhận hồ sơ nhập khẩu giống như tách khẩu.

Còn đối với quyền nuôi con, vì bạn không trình bày cụ thể trường hợp của bạn nên chúng tôi không thể tư vấn một cách cụ thể nhất, mà chỉ có thể tư vấn cho bạn dựa trên nguyên tắc chung về quyền nuôi con theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội như sau:

"2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Những điều cần lưu ý: Sau này khi muốn tách hộ khẩu thì bạn cần phải có sự đồng ý của chủ hộ của gia đình nhà chồng. Và bạn cũng cần xác định chính xác độ tuổi của con mình khi ly hôn, để từ đó xác định được người trực tiếp có quyền nuôi con trong trường hợp này là ai.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chồng tố cáo vợ ngoại tình để giành quyền nuôi con phải làm sao ?

2. Vợ ngoại tình nếu ly hôn thì chồng có được quyền nuôi con không?

Xin chào luật sư, hiện tại tôi và vợ đang làm việc tại Đài Loan. Trong thời gian làm việc, tôi có phát hiện vợ có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Tôi vì con nhỏ đã tha thứ một lần nhưng vợ tôi không tỉnh ngộ vẫn u mê theo người khác. Bây giờ, tôi muốn ly hôn, vậy theo luật sư tôi có quyền được nuôi con không? Hiện tại con tôi đã được 05 tuổi?

Xin luật sư tư vấn giúp cho tôi. Xin cảm ơn!

Vợ ngoại tình nếu ly hôn thì chồng có được quyền nuôi con không?

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn và vợ đang làm việc tại Đài Loan. Trong thời gian làm việc, bạn có phát hiện vợ bạn có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Vì con nhỏ, bạn đã tha thứ một lần nhưng vợ bạn không tỉnh ngộ vẫn u mê theo người đàn ông khác. Bây giờ, bạn muốn ly hôn, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương nộp tại Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho vợ chồng bạn khi bạn đưa ra được căn cứ lý do chính đáng bạn muốn ly hôn trong trường hợp này là vợ bạn có hành vi ngoại tình - vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy của vợ đối với chồng. Mặc dù, bạn đã tha thứ nhưng vợ bạn cũng không thay đổi và vẫn tiếp tục u mê và đi theo người đàn ông khác. Bạn có thể đưa ra được bằng chứng như video, hình ảnh, băng ghi âm, ghi hình chứng minh vợ bạn ngoại tình để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho bạn.

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo như thông tin bạn cung cấp, con của bạn hiện nay đang được 05 tuổi. Độ tuổi của con bạn không thuộc các trường hợp được ưu tiên cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, cụ thể: Nếu con bạn dưới 36 tháng tuổi thì sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên sẽ xem xét nguyện vọng của cháu. Chính vì vậy, trong trường hợp này, bạn có thể giành được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn khi bạn thuộc một trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, vợ bạn chấp nhận để bạn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn, còn vợ bạn là người sẽ cấp dưỡng cho con khi bạn trực tiếp nuôi dưỡng cháu.

Trường hợp thứ hai, bạn chứng minh được mình có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn tốt hơn vợ bạn khi mà vợ bạn cũng muốn tranh giành quyền nuôi dưỡng con với bạn. Lúc này, để chứng minh được mình có đủ điều kiện tốt hơn vợ bạn thì bạn có thể chứng minh qua các cách sau: Bạn cần chứng minh được bạn có công việc ổn định, có thu nhập đủ để chăm sóc cho cả bạn và con bạn, còn vợ bạn mặc dù có thu nhập nhưng không cao bằng bạn. Đồng thời, bạn có thể đưa ra bằng chứng để chứng minh vợ bạn có hành vi ngoại tình nên thường xuyên không chăm sóc, quan tâm đối với con, chỉ biết đến người đàn ông khác. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể chứng minh gai đình bạn có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cả bạn cũng như con của bạn kể cả khi bạn không có công việc ổn định thì gia đình bạn gồm bố mẹ bạn, anh chị em trong gia đình có đủ tình hình tài chính để có thể chăm sóc cho cả hai bố con.

>> Tham khảo ngay nội dung: Quyền nuôi con khi đủ 3 tuổi sẽ được tòa án phân định thế nào khi ly hôn ?

3. Phân chia tài sản khi không có hộ khẩu ở nhà chồng và quyền nuôi con khi ly hôn ?

Em chào anh chị luật sư, xin hỏi: Em và chồng đang làm thủ tục ly hôn, tuy nhiên, khi kết hôn em chưa chuyển hộ khẩu vào nhà chồng, em nghe mọi người nói nếu không có hộ khẩu ở nhà chồng thì khi ly hôn không được chia tài sản có đúng không ạ? Quyên nuôi con của vợ chồng em như thế nào ? Mong luật sư phản hồi sớm cho em

Trả lời:

Thứ nhất, về chế độ tài sản

Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì việc phân chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn không phụ thuộc vào việc bạn có nhập hộ khẩu vào gia đình nhà chồng hay không, việc phân chia tài sản sẽ được thực hiện trên cơ sở xác nhận tài sản đó là tài sản chung hay tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng bạn.

Theo đó, căn cứ theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Về nguyên tắc quyền sử hữu tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ, chồng bạn là như nhau và khi vợ chồng ly hôn thì hai vợ chồng bạn sẽ chia đôi số tài sản này ( trừ trường hợp có sự phân chia theo tỉ lệ đóng góp ). Cụ thể:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Bên cạnh đó, theo quy định tại điều 43 Luật hôn nhân và gia đình thì những tài sản được hình thành trước thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản được nhận thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì đó sẽ là tài sản riêng của vợ, chồng. Khi ly hôn thì tài sản này không được đưa ra phân chia (trừ trường hợp hai bên có sự thỏa thuận khác).

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Thứ hai, về vấn đề nuôi con

Căn cứ theo quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 khi bố, mẹ ly hôn mà không thỏa thuận được vấn đề nuôi con thì tòa án sẽ phân chia theo quy định của pháp luật. Cụ thể, nếu con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ nuôi ( trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện nuôi con). Nếu con trên 36 tháng tuổi thì quyền nuôi con ngang hàng giữa bố và mẹ, theo đó Tòa án sẽ giao cho người có đủ điều kiện về tài chính, nơi ở hợp pháp, thời gian, điều kiện sức khỏe…để trực tiếp nuôi con.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo đó, trước hết tòa sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của hai bên. Nếu các bên không thỏa thuận được thì tòa sẽ xem xét độ tuổi của các con và căn cứ vào các yếu tố của mỗi bên về kinh tế, cơ sở vật chất, tinh thần, sức khỏe, nhân thân để xác định ai là người được quyền nuôi con.

>> Xem thêm: Chồng muốn giành quyền nuôi con dưới 36 tháng?

4. Cần chứng minh những gì với tòa án để có thể được nuôi con sau ly hôn ?

Kính gửi luật sư Minh Khuê! Tôi là 1 công nhân còn chồng tôi là 1 viên chức nhà nước (hiện tại là phó phòng của phòng Tài Nguyên và Môi Trường của huyện). Chúng tôi có với nhau 2 đứa con gái, đứa lớn học lớp 1 và đứa nhỏ gần 3 tháng tuổi. Trước khi sinh đứa nhỏ tôi đã từng bị chồng say rượu về đánh đập vài lần, nhưng cãi nhau thì liên tục.
Sau khi có bé nhỏ tình trạng cãi nhau lại tăng thêm ngày 1 nhiều mà vấn đề chỉ xoay quanh việc ham chơi hay nhậu nhẹt với bạn bè. Cho tới nay chúng tôi cảm thấy không đồng quan điểm sống và muốn li hôn nhưng tôi lo lắng mình sẽ mất bé lớn khi ra tòa. Vậy luật sư cho tôi hỏi có cách nào để tôi được quyền nuôi cả 2 bé hay không ( bé lớn chỉ muốn ở với mẹ).
Tôi chân thành cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Và theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ vào quy định của 2 Điều luật trên, bạn có thể thỏa thuận với chồng của bạn về việc ly hôn. Trong trường hợp không thể thỏa thuận được, bạn có quyền được làm đơn ly hôn đơn phương với lý do mâu thuẫn già đình nghiêm trọng, chồng có hành vi bạo lực gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...

Theo đó, về vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn được Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo như phần trình bày của bạn, vợ chồng bạn hiện có 2 người con: 1 bé học lớp 1 (bạn cần xác định năm nay bé đã đủ 7 tuổi chưa) và một bé gần 3 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều luật trên, đối với con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Như vậy, nếu bạn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và chăm sóc con thì bé 3 tháng tuổi sẽ do bạn trực tiếp nuôi. Còn đối với người con hiện đang học lớp 1 của bạn, nếu bé đã từ đủ 7 tuổi trở lên, thì theo quy định tại khoản 2 Điều 81 như trên thì việc ai là người trực tiếp nuôi Tòa án sẽ xét dựa trên nguyện vọng của cháu. Còn nếu cháu chưa đủ 7 tuổi, thì người có quyền nuôi cháu lúc này Tòa án sẽ xem xét dựa trên tình hình thực tế: về vấn đề tinh thần, tài chính, thời gian..., bố hay mẹ đảm bảo điều kiện nuôi con tốt hơn thì Tòa án sẽ giải quyết cho người đó được trực tiếp nuôi dưỡng. Và người còn lại phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Đơn phương ly hôn và việc giành quyền nuôi con sau khi ly hôn?

5. Nếu ly hôn quyền nuôi con thuộc về ai?

Thưa luật sư: Vợ chồng tôi đã kết hôn được 6 năm, chúng tôi hiện có 1 con chung và cháu được 4 tuổi. Trường hợp chúng tôi ly hôn thì con thuộc về ai?

Kính mong luật sư tư vấn giúp! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Để bạn có thể hiểu rõ về quy định của pháp luật liên quan đến việc nuôi con sau khi ly hôn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

1. Quyền nuôi con sau ly hôn phụ thuộc vào độ tuổi của con

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Từ quy định trên, có thể thấy, quyền nuôi con sau ly hôn phụ thuộc vào độ tuổi của con, cụ thể như sau:
  • Con dưới 36 tháng tuổi: giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng theo khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Quy định như vậy vì xét trên thực tế trẻ con trong độ tuổi này cần sự nuôi nấng và chăm sóc trực tiếp từ người mẹ mới đảm bảo sức khỏe và tinh thần. Người mẹ chỉ không được quyền nuôi con khi cha, mẹ đã có thỏa thuận khác để đảm bảo về lợi ích của con hoặc người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.
  • Con từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi: quyền trực tiếp nuôi con sẽ do cha, mẹ thỏa thuận theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con.
  • Con từ đủ 07 tuổi trở lên: theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật trên thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con muốn ở với ai để quyết định người trực tiếp nuôi con.

​Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp con bạn được 4 tuổi thì quyền trực tiếp nuôi con sẽ do hai vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con

2. Các căn cứ để Tòa án phán quyết quyền nuôi con

Hiểu về các căn cứ để Tòa án phán quyết quyền nuôi con sẽ giúp bạn có được những lợi thế khi cạnh tranh quyền nuôi con với đối phương. Căn cứ để tòa án giao con cho vợ hoặc chồng nuôi nấng sẽ dựa vào các điều kiện vật chất, điều kiện tinh thần, nguyện vọng của con,…cụ thể như sau:

- Điều kiện vật chất: tức là điều kiện về kinh tế đảm bảo để nuôi nấng và chăm sóc con. Người trực tiếp nuôi dưỡng con phải có điều kiện vật chất đảm bảo. Điều kiện vật chất đảm bảo tức là cha hoặc mẹ phải đáp ứng được những nhu cầu cho con ở mức sống tối thiểu cho nhu cầu ăn, ở và học tập của con. Pháp luật không yêu cầu người trực tiếp nuôi con phải cho con cuộc sống cao cấp hay sung túc song cha, mẹ phải đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của trẻ. Ví dụ, để nuôi đứa trẻ 07 tuổi thì phải đảm bảo cho con được ăn uống đầy đủ, được vui chơi, học tiểu học. Điều kiện vật chất của cha hoặc mẹ sẽ được chứng minh qua thu nhập hàng tháng hoặc tình trạng tài chính ổn định. Người không chứng minh được tình trạng tài chính ổn định sẽ gặp bất lợi trong việc cạnh tranh quyền nuôi con. Tuy nhiên, không phải người có kinh tế tốt hơn sẽ được quyền nuôi con mà còn dựa vào nhiều yếu tố khác.

- Yếu tố tinh thần: bao gồm việc nuôi dưỡng con trong môi trường sống tốt để trẻ có khả năng phát triển toàn diện về sức khỏe và tinh thần và đảm bảo được quỹ thời gian để chăm sóc và giáo dục con.

- Sức khỏe của cha mẹ: người trực tiếp nuôi dưỡng con phải là người có sức khỏe tốt hoặc điều kiện sức khỏe đảm bảo để chăm sóc cho con.

- Đạo đức, nhân phẩm của người trực tiếp nuôi dưỡng: Tòa án sẽ xem xét đến yếu tố này khi quyết định quyền nuôi con. Người có tiền án, tiền sự sẽ gặp bất lợi khi xét theo yếu tố này.

3. Quyền và nghĩa vụ của bên không trực tiếp nuôi con

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Từ quy định trên, có thể thấy sau khi ly hôn:

-Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Điều này có thể hiểu là cha, mẹ ly hôn và quyền nuôi con thuộc về người mẹ thì người cha vẫn có quyền thăm nom con với tần suất nhất định mà không được làm ảnh hưởng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ là: cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng cho con cho cha, mẹ tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tiền cấp dưỡng nuôi con đảm bảo những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con, việc cấp dưỡng có thể thực hiện định kỳ hàng tháng hoặc theo quý, theo năm. Mức cấp dưỡng được quy định tại điều 116 luật Hôn nhân và gia đình 2014. Phương thức cấp dưỡng quy định tại điều 117 luật trên.

4. Cách giành quyền nuôi con

Làm cha, làm mẹ chính là thiên chức cao quý và thiêng liêng nhất mà Thượng đế trao cho mỗi người chúng ta. Con cái là tài sản vô giá không tiền nào mua được. Để có thể giành được quyền nuôi con, bạn cần hiểu rõ cách Tòa án xem xét và phán quyết quyền nuôi con dựa vào những yếu tố nào. Từ đó bạn sẽ có cho mình những sự chuẩn bị để giành lợi thế. Có luật sư bên mình sẽ giúp bạn chuẩn bị đầy đủ hành trang và không đơn độc trong cuộc chiến giành quyền nuôi con.

Bạn nên mời luật sư để giúp bạn giành quyền nuôi con hoặc ít nhất là nên tham khảo sự tư vấn của luật sư. Các luật sư và chuyên viên pháp lý là những người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này, đã giải quyết các vụ việc tương tự nên họ sẽ cung cấp cho bạn những lời khuyên và những giải pháp hữu hiệu nhất để bạn giành được quyền nuôi con.

Khi không có luật sư đồng hành bên mình, bạn có thể gặp nhiều bất lợi như: không chuẩn bị đầy đủ giấy tờ hồ sơ, không đưa ra được các bằng chứng chứng minh thu nhập hoặc các chứng cứ chứng minh vợ, chồng bạn không đủ khả năng nuôi con,… Bạn sẽ gặp khó khăn hơn nữa nếu đối phương nhờ sự giúp đỡ của luật sư để giành quyền nuôi con trong khi bạn không có. Vì vậy, lời khuyên cho bạn là nên tìm tới các dịch vụ tư vấn pháp lý trong trường hợp này để giành lợi thế về mình nhiều nhất có thể.

Hi vọng những chia sẻ trên giúp bạn có thêm kiến thức và hiểu biết có ích về vấ đề ly hôn quyền nuôi con và cách giành quyền nuôi con khi ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê