1. Có được chuyển nhượng cổ phần đối với cổ đông sáng lập của tổ chức tín dụng?

Theo quy định tại Điều 64 Luật Tổ chức tín dụng 2024 (chưa có hiệu lực - chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng là công ty cổ phần) thì trong thời gian 05 năm kể từ ngày Tổ chức Tín dụng nhận được Giấy phép, quy định về việc chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông sáng lập được áp dụng một cách nghiêm ngặt. Cụ thể, các cổ đông sáng lập chỉ có thể chuyển nhượng cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi cổ tức cho các cổ đông sáng lập khác, nhưng phải tuân thủ các điều kiện cụ thể. Bao gồm việc đảm bảo rằng tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông sáng lập không vượt quá mức quy định tại Điều 63 của Luật này. Nhấn mạnh sự quan trọng của việc duy trì sự ổn định và tính bền vững trong cấu trúc sở hữu của tổ chức tài chính trong giai đoạn đầu tiên của hoạt động của nó.

=> Do đó, trong vòng 05 năm tính từ ngày Tổ chức Tín dụng nhận được Giấy phép, cổ đông sáng lập không được phép chuyển nhượng cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi cổ tức ra bên ngoài tổ chức. Chỉ khi đáp ứng các yêu cầu cụ thể của pháp luật đối với các cổ đông sáng lập khác, họ mới được phép tiến hành chuyển nhượng. Tuy nhiên, sau khi hết thời gian này, cổ đông sáng lập có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình ra bên ngoài theo quy định của pháp luật. Nhấn mạnh sự cần thiết của việc tuân thủ quy định luật pháp và đảm bảo tính ổn định trong quá trình phát triển của tổ chức tài chính.

 

2. Quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần trong tổ chức tín dụng hiện nay

Tại Điều 63 Luật Tổ chức tín dụng 2024 có quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần:

- Với các cá nhân cổ đông, họ không được phép sở hữu cổ phần vượt quá 05% của vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Nhằm giữ cho quyền sở hữu cổ phần của cá nhân trong một phạm vi hợp lý và hạn chế sự tập trung quá mức quyền lợi trong hệ thống tài chính.

- Đối với các tổ chức là cổ đông, giới hạn sở hữu cổ phần không được vượt quá 10% của vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Giúp ngăn chặn các tổ chức lớn chiếm lĩnh quá nhiều quyền lực trong hoạt động của tổ chức tài chính.

- Cổ đông và các cá nhân có liên quan của họ không được phép sở hữu tổng cộng cổ phần vượt quá 15% của vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Việc đưa ra quy định như vậy nhằm đảm bảo rằng không có cá nhân hay nhóm người nào có thể kiểm soát quá mức hoạt động của tổ chức tài chính.

- Các cổ đông lớn và người có liên quan của họ không được phép sở hữu cổ phần từ 05% trở lên của vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng khác. Giữ cho quyền lực sở hữu được phân phối rộng rãi và ngăn chặn sự tập trung quá mức quyền lợi trong ngành tài chính. Đồng thời, nó cũng thúc đẩy tính minh bạch và cạnh tranh trong thị trường tài chính.

- Các trường hợp ngoại lệ từ quy định được chi tiết như sau:

+ Quy định không áp dụng đối với việc sở hữu cổ phần tại các công ty con hoặc công ty liên kết của tổ chức tín dụng, như đã quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 của Điều 111 trong Luật này. Vấn đề này có ý nghĩa là các tổ chức tín dụng có thể sở hữu cổ phần tại các đơn vị liên kết mà không phải tuân thủ các ràng buộc về tỷ lệ sở hữu cổ phần nhất định.

+ Các quy định cũng không áp dụng cho việc sở hữu cổ phần nhà nước tại các tổ chức tín dụng đã được cổ phần hóa và mang lại sự linh hoạt cho chính phủ trong việc quản lý và sử dụng tài sản nhà nước trong ngành tài chính.

+ Cuối cùng, các quy định không áp dụng đối với việc sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, như đã quy định tại Khoản 7 của Điều này. Nhấn mạnh sự linh hoạt và khả năng điều chỉnh của quy định, đồng thời đảm bảo tính công bằng và phát triển trong môi trường kinh doanh. Tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự đầu tư và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính.

- Tỷ lệ sở hữu cổ phần, như quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Điều này, không chỉ tính đến số cổ phần mà còn bao gồm cả việc sở hữu cổ phần gián tiếp. Đối với Tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định tại Khoản 3, nó không chỉ tính đến việc sở hữu cổ phần trực tiếp, mà còn bao gồm các trường hợp như cổ phần được mua bởi các tổ chức hoặc cá nhân khác theo uỷ thác của cổ đông, trừ khi có sự liên quan đến các công ty con của cổ đông đó theo quy định tại điểm a, Khoản 9, Điều 4 của Luật này. Nhấn mạnh sự phức tạp và chi tiết của quy định, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản lý sở hữu cổ phần.

- Trong khoảng thời gian 05 năm tính từ ngày Tổ chức Tín dụng nhận được Giấy phép, các cổ đông sáng lập có trách nhiệm giữ lại ít nhất 50% số cổ phần trong vốn điều lệ của tổ chức. Đối với các cổ đông sáng lập là tổ chức pháp nhân, họ cũng cần đảm bảo giữ ít nhất 50% tổng số cổ phần mà tất cả các cổ đông sáng lập nắm giữ. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự ổn định và quyền lợi của các cổ đông sáng lập trong giai đoạn đầu tiên của hoạt động của tổ chức tài chính.

- Nhà đầu tư nước ngoài đang có quyền mua cổ phần tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, nhưng với các ràng buộc và quy định được Chính phủ đặt ra. Bao gồm việc xác định mức tối đa của tổng số cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu, cũng như giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa mà một tổ chức nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ tại một tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Ngoài ra, có sự quy định về các điều kiện và thủ tục mà các nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ khi muốn mua cổ phần của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Đồng thời, cũng có các quy định đặc biệt về điều kiện mà các tổ chức tín dụng tại Việt Nam cần tuân thủ khi bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhấn mạnh sự cẩn trọng và tính công bằng trong việc quản lý và thúc đẩy hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam.

 

3. Các loại cổ phần của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần 

Theo quy định của Điều 60 trong Luật Tổ chức Tín dụng năm 2024, các loại cổ phần được phân chia như sau:

- Cổ phần phổ thông: Đây là loại cổ phần cơ bản, không có các đặc điểm ưu đãi đặc biệt, được phân phối cho các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần đã được quy định.

- Cổ phần ưu đãi: Bao gồm hai loại ưu đãi cổ tức và ưu đãi biểu quyết. Cổ phần ưu đãi này mang lại các quyền lợi đặc biệt cho các cổ đông, bao gồm quyền nhận cổ tức ưu đãi cao hơn hoặc quyền biểu quyết có trọng số lớn hơn trong các quyết định của tổ chức tín dụng. Tạo ra sự linh hoạt và lựa chọn đa dạng cho các nhà đầu tư và cổ đông trong hệ thống tài chính.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, mang theo một loạt các quy định mới để điều chỉnh hoạt động của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, đáng chú ý là một số quy định nhất định, như khoản 3 của Điều 200 và khoản 15 của Điều 210, sẽ chỉ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2025. Đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng có đủ thời gian để chuẩn bị và thích nghi với các thay đổi mới, tạo điều kiện cho sự chuyển đổi một cách thật là hiệu quả.

Ngoài ra, có thể tham khảo: Thủ tục chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần 2023 mới nhất. Còn khúc mắc. liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.