1. Chuyển vốn vay thành vốn góp vào công ty được không ?

Luật sư cho tôi hỏi: Công ty tôi là Công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Do thiếu vốn nên thực hiện việc vay vốn cá nhân của một thành viên góp vốn. Nhưng đến thời điểm hiện tại Hội đồng thành viên quyết định tăng vốn điều lệ từ việc góp thêm vốn, không thay đổi thành viên góp vốn.
Vậy số vốn vay thành viên trên có thể chuyển thành vốn góp được không? Thủ tục cần những gì?
Chân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi số:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Theo Điều 4 Khoản 3. Giải thích từ ngữ của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì "Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.

Tại Điều 35 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định:

Điều 35. Tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

2. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.

Trong trường hợp của bạn, Công ty muốn chuyển phần tiền vay của cá nhân thành phần vốn góp của công ty thì cần được tất cả các thành viên của Hội đồng Thành viên đồng ý việc chuyển khoản vay thành vốn góp.

Theo Điều 31. Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Luật doanh nghiệp năm 2014

1. Doanh nghiệp phải đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 29 của Luật này.

2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung (nếu có).

4. Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Người đề nghị đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp gửi đề nghị đăng ký thay đổi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành. Kèm theo đăng ký phải có bản sao bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thi hành;

b) Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới theo nội dung bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực thi hành trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị đăng ký. Trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị đăng ký thay đổi biết. Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có).

Theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP đăng ký doanh nghiệp quy định như sau:

Điều 44. Đăng ký thay đổi vốn điều lệ, thay đổi tỷ lệ vốn góp

1. Trường hợp công ty đăng ký thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên, của các thành viên hợp danh công ty hợp danh, công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng kýkinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa cómã số doanh nghiệp, mã số thuế);

b) Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này hoặc số quyết định thành lập, mã số doanh nghiệp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;

c) Tỷ lệ phần vốn góp của mỗi thànhviên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc của mỗi thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh;

d) Vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ đã thay đổi; thời điểm và hình thức tăng giảm vốn;

đ) Họ, tên, quốc tịch, số Chứng minhnhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này, địa chỉ thường trú và chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc thành viên hợp danh được ủy quyền đối với công ty hợp danh.

2. Trường hợp đăng ký thay đổi vốn điều lệ công ty, kèm theo Thông báo quy định tại Khoản 1 Điều này phải có Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về việc thay đổi vốn điều lệ của công ty; văn bản của Sở Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đối với trường hợp quy định tạiKhoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư....

4. Trường hợp giảm vốn điều lệ, doanhnghiệp phải cam kết bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác sau khi giảm vốn, kèm theo Thông báo phải có thêm báo cáo tài chính củacông ty tại kỳ gần nhất với thời điểm quyết định giảm vốn điều lệ.

5. Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng kýkinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp."

Vậy trường hợp của bạn sẽ là thay đổi vốn điều lệ và thay đổi tỷ lệ góp vốn. Bạn cần tiến hành các thủ tục theo điều 45 Nghị định78/2015/NĐ-CPN về đăng kí doanh nghiệp.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162.Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Vốn điều lệ là gì ? Quy định pháp luật về vốn điều lệ

2. Tư vấn góp vốn cùng công ty kinh doanh ?

Thưa luật sư, Em đang có dự định góp tiền mặt khoảng 25% vào một đơn hàng nhập khẩu vào một công ty của người quen. Cụ thể như sau : Công ty ấy đang kinh doanh về mãng mâm xe ô tô, để đa dạng hoá sản phẩm từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, nên công ty ấy đã liên lạc và có báo giá của một nhà cung cấp nước ngoài và cũng đã gửi cho Em xem và trên bảng giá ấy củng đã có tất cả các chi phí khi hàng về tới việt nam.
Để đủ số tiền nhập hàng và đa dạng sản phẩm họ kêu gọi đầu tư, Em đồng ý tham gia. Xin luật sư tư vấn giúp Em, Em là cá nhân khi góp vốn vào một công ty và hình thức kinh doanh như vậy thì Em nên có hợp đồng hay các thủ tục gì để đảm bảo theo đúng pháp luật và không thiệt thòi về sau này, còn về phương diện tình cảm Em đã làm với công ty này và từng là nhân viên của họ nên Em nắm rỏ tình hình kinh doanh của họ củng như thoả thuận ăn chia.
Em cũng đang là nhân viên sale đây là lần đầu tiên Em làm và cũng là sự lựa chọn khởi nghiệp của Em, nên Em còn thiếu kiến thức mong luật sư tư vấn giúp Em hoặc có biểu mẫu hợp đồng kinh doanh hình thức này cho Em xin tham khảo được không ạ?
Chân thành cám ơn và mong hồi âm của Luật Sư!
Người gửi: Phúc minh

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty. Về vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý: Luật Doanh nghiệp 2005.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 thì Góp vốn chính là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.

Vì anh không nêu cụ thể công ty anh muốn góp tiền mặt vào là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay công ty hợp danh nên nếu như anh đảm bảo được anh không thuộc trường hợp cá nhân không được mua cổ phần, góp vốn theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 thì việc anh góp tiền mặt với giá trị bằng 25% của một đơn hàng nhập khẩu vào công ty sẽ được coi là góp vốn nếu như việc này có mục đích để anh trở thành chủ sở hữu chung của công ty.

Khi anh xác định được mình thuộc đối tượng được quyền góp vốn thì đối với thủ tục góp vốn anh cần thực hiện những bước sau đây:

- Xác định tài sản góp vốn: Trong trường hợp này anh có nói là tiền mặt.

- Định giá tài sản góp vốn: Do các thành viên/ cổ đông sáng lập cùng định giá.

- Khi đã được sự đồng ý của các thành viên/ cổ đông sáng lập anh sẽ được nhận giấy chứng nhận góp vốn.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Điều lệ là gì ? Khái niệm điều lệ doanh nghiệp, điều lệ công ty được hiểu như thế nào ?

3. Định giá tài sản góp vốn là bất động sản như thế nào ?

Thưa luật sư, em có câu hỏi mong luật sư giải đáp giúp: A,B,C là 3 cá nhân đứng tên thành lập công ty TNHH X vào tháng 7 năm 2007, A,B góp vốn bằng tiền, C góp vốn bằng 1 căn nhà do các bên tự định giá là 2 tỷ đồng, chiếm 50% vốn điều lệ của công ty.

Căn nhà đã được sang tên công ty, C vừa là chủ tịch hội đồng thành viên đồng thời là người đại diện theo pháp luật.

Vậy, việc các bên tự định giá tài sản như vậy có đúng không, C có được đồng thời giữ các chức danh nêu trên không? căn cứ pháp lý ?

Người gửi : Quynh Quynhcoi

Luật sư trả lời:

1. Tài sản góp vốn

Theo quy định của pháp luật, nếu 3 chủ sở hữu công ty có thỏa thuận thì C hoàn toàn có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Điều 35 luật doanh nghiệp năm 2014 được quy định như sau:

Điều 35: Tài sản góp vốn:
1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

Giá trị tài sản gớp vốn được xác định theo kết quả thẩm định gía của tổ chức thẩm định giá hoặc theo sự nhất trí, thỏa thuận của các thành viên trong công ty- việc xác định giá theo sự thỏa thuận dựa trên tinh thần trung thực, pháp luật nghiêm cấm việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thức tế ( quy định tại ddieuf 17- luật doanh nghiệp 2014). Quy định cụ thể về việc xác định giá và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn được quy định tại luật doanh nghiệp 2014 như sau:

Điều 36. Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn

1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:

a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;

Điều 37. Định giá tài sản góp vốn

1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.

2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hựop tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.

Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận.

Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

2. C có được kiêm nhiệm đồng thời hai chức danh không ?

Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về việc hạn chế một cá nhân có thể kiêm nhiệm nhiều chức danh tại doanh nghiệp. Tức là C có thể vừa là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo sự thỏa thuận của 3 thành viên góp vốn khi sáng lập công ty đồng thời là chủ tịch hội đồng thành viên với nhiệm kỳ 05 năm theo kết quả phiếu bầu của hội đồng thành viên, thể thức bỏ phiếu được quy định cụ thể tại điều lệ công ty bạn.

Điều 57. Chủ tịch Hội đồng thành viên

1. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục giảm vốn điều lệ công ty TNHH 2 (hai) thành viên trở lên

4. Tư vấn tranh chấp hợp đồng kinh tế góp vốn cùng kinh doanh ?

Gửi quý công ty luật Minh Khuê, gia đình tôi hiện xảy ra mâu thuẫn với cộng sự liên quan tới hoá đơn chi trả cho việc trang trí nội thất phòng hát, cụ thể như sau: Gia đình tôi chung vốn với 3 người bạn (chú Trung, Long, Mười) mở dịch vụ massage tại thôn Mông, xã Phúc Thành, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Trên hợp đồng góp vốn ghi họ tên bốn người, tổng số vốn đầu tư, mỗi người góp đủ 1/4 trên tổng số vốn đầu tư, quyền lợi và trách nhiệm như nhau, có chữ ký của cả 4 thành viên nhưng không mang ra phường xã để đóng dấu. Cuối năm ngoái, chú Trung đã xin rút vốn, cổ phần của chú bán hết lại cho chú Mười. Sau đó ba người còn lại xây dựng thêm 3 phòng hát cũng trên thửa đất đó. Tới cuối tháng 5/2015 sau khi phòng hát hoạt động được khoảng 3 tháng thì chú Long đi nước ngoài và đã bán lại cổ phần cho chú Mười (cả phần xông hơi và hát). Hiện tại nhà tôi còn 1/4 cổ phần xông hơi, 1/3 cổ phần phòng hát, còn lại là của chú Mười. Trong quá trình xây dựng phòng hát, chú Long và chú Mười nói là sẽ có đầy đủ hoá đơn chứng từ xây dựng và hoàn thiện 3 phòng hát (gồm 3 phần: xây dựng, máy móc, và thiết kế trang trí nội thất).

Chú Long có hoá đơn của phần xây dựng và máy nhưng riêng phần trang trí nội thất do chú Mười phụ trách thì không có. Trước Tết 2015 mấy hôm, chú Mười có gọi điện lên báo đã hoàn thiện 2 phòng, 1 phòng thiếu dàn máy, tổng chi hết khoảng 540 triệu, nếu có phát sinh thì không đáng kể. Qua Tết, vào cuối tháng 5/2015, tôi có về quyết toán chi phí thì chú Mười nói không mua nguyên vật liệu để thuê thợ làm trang trí nữa mà khoán trắng cho bên trang trí, giá là 5.5 triệu/m2, (lúc đầu nói là 3 triệu/m2), tổng phí trang trí phát sinh lên hơn 100 triệu so với ban đầu. Cho tới trước ngày 20/6 chú Mười vẫn khăng khăng không có hoá đơn cho phần trang trí và thách thức, ép nhà tôi phải thanh toán chi phí như chú đấy báo. Nhưng không biết vì lý do gì, tới sáng hôm 20/6 chú Mười gọi 2 người thi công về và đưa hoá đơn cho phần trang trí ra với mức giá 5.5 triệu/m2. Tôi có nhờ 2 người thân đóng giả là khách hàng, gọi điện cho 2 anh tôi người chủ thi công phần trang trí, họ đều nói là có thi công 3 phòng hát ở cơ sở nhà tôi, một người nói 3 tr/m2, người kia nói 3.5 triệu/m2. Tôi có ghi âm được 1 cuộc, cuộc gọi thứ nhất do không chủ động nên không ghi âm được. Bây giờ do mâu thuẫn xảy ra quá căng thẳng, và tôi không chấp nhận mức giá chú Mười khai khống lên nên muốn làm đơn nhờ pháp luật giải quyết giúp. Tôi muốn hỏi luật sư là trường hợp như vậy thì có lập hồ sơ gửi lên viettel để truy lại cuộc gọi hôm 17/5 tôi nhờ người nhà giả khách hàng để lấy thông tin giá thật với cuộc gọi hôm 23/2 để lấy thông tin chú Mười gọi lên cho mẹ tôi báo tổng chi phí không? Nếu có đủ những chứng cớ như vậy, bên tôi có đòi lại được công bằng không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư ván luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo dữ liệu anh cung cấp thì gia đình anh chung vốn với 3 người bạn Trung, Long, Mười mở dịch vụ massage tại thôn Mông, xã Phúc Thành, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.Trên hợp đồng góp vốn ghi họ tên bốn người, mỗi người góp đủ 1/4 trên tổng số vốn đầu tư, quyền lợi và trách nhiệm như nhau, có chữ ký của cả 4 thành viên nhưng không mang ra phường xã để đóng dấu. Cuối năm ngoái, chú Trung đã xin rút vốn, cổ phần của chú bán hết lại cho chú Mười. Sau đó ba người còn lại xây dựng thêm 3 phòng hát cũng trên thửa đất đó. Trong trường hợp này, nếu tài sản góp vốn là tài sản khác không phải quyền sử dụng đất thì hợp đồng góp vốn có giá trị pháp lý. Nếu tài sản góp vốn là quyền sử dụng đất thì chỉ khi hoàn tất thủ tục đăng ký với cơ quan chức năng thì hợp đồng đó mới có giá trị pháp lý (quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013)

Hợp đồng góp vốn quy định quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người như nhau. Do vậy, khi hợp đồng góp vốn có giá trị pháp lý và trong hợp đồng có quy định rõ trách nhiệm nghĩa vụ của từng người về việc khai báo giấy tờ hóa đơn liên quan đến việc xây dựng phòng hát, dịch vụ massage thì hành vi của anh Mười là hành vi không tuân thủ trách nhiệm thỏa thuận trong hợp đồng vì anh Mười đã không khai báo hóa đơn chính xác cho anh và anh Long. Và tranh chấp phát sinh khi không thỏa thuận được. Trong trường hợp này, nếu không tự giải quyết được tranh chấp thì anh có thể nộp đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân nơi xảy ra tranh chấp kèm theo chứng cứ. Bản ghi âm của anh Mười báo giá với khách hàng được coi là chứng cứ nếu có văn bản xác nhận xuất xứ từ 2 người khách hàng và Viettel thì có thể được coi là chứng cứ cùng với hóa đơn anh Mười đưa cho anh phần trang trí với mức giá 5.5 triệu/m2 vì theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTPTANDTC quy định về xác định chứng cứ quy định tại Điều 83 của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 như sau:

b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh,… Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.

Khi hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không công chứng thì sẽ không có giá trị pháp lý và khi đó tòa án sẽ không giải quyết việc tranh chấp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có bao nhiêu người được đại diện phần vốn nhà nước trong công ty ?

5. Quyền lợi của cổ đông góp vốn là gì ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp. Thưa luật sư bạn tôi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản luật sư cho tôi hỏi, nội dung sự việc tôi trình bày trong đơn đề nghị sau:

Nôi dung đơn :
"Tên tôi là: P
Tôi xin trình bầy với thủ trưởng cơ quan như sau:
Ngày 19/08/2011 Tôi là P cùng ông T có góp vốn để mở một Công ty chuyên kinh doanh về mặt hàng thép ống, thép hộp U I V, các loại tấm lợp tôn.
Hai bên cùng góp vốn là: 3.202.000.000 đồng ( Ba tỷ hai trăm linh hai triệu đồng). Chúng tôi kinh doanh chung từ ngày thành lập đến ngày 31/12/2012 tôi xin rút vốn. Trong thời gian khoảng 45 phút Ông T và kế toán của Công ty cộng sổ sách và cho tôi con số: 2.669.040.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm sáu mươi chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) là số tiền thua lỗ trong kinh doanh.
Vậy chia đôi mỗi người phải chịu khoản lỗ là: 1.334.520.000 đồng ( Một tỷ ba trăm ba mươi tư triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Tôi không rõ những khoản lỗ đó là những chi phí gì nên tôi đề nghị kiểm tra chứng từ, sổ sách nhưng Ông T không cho tôi kiểm tra.
Tại ngày 05/08/2013 tôi đã hỏi xin Ông T mang sổ sách đi phô tô nhưng Ông T không đồng ý. Tôi cùng Bà N ( Kế toán Công ty) với Ông Phạm Khắc Tỉnh ( Nhân viên trong Công ty) với Ông V ( Người hàng xóm) cùng liêm phong toàn bộ sổ sách của Công ty đóng gói vào thùng carton và liêm phong một bề có chữ ký của tôi và những người làm chứng. Đến chiều tôi có qua Công ty yêu cầu được kiểm tra chứng từ, sổ sách thì không thấy chứng từ sổ sách của Công ty đâu tôi đề nghị ông T cho kiểm tra chứng từ nhưng ông không đồng ý và cũng không biết ông mang sổ sách đi đâu nữa. tôi thấy hết sức bất bình và thật sự là rất vô lý. Dù kinh doanh có lỗ hay lãi thì chứng từ sổ sách phải chứng minh được điều này và tôi với quyền là Cổ đông nắm 50% số vốn của Công ty tôi yêu cầu ban giám đốc của Công ty phải giải trình sự việc trên nhưng cũng không nhận được sự hợp tác do đó tôi làm đơn này kính cơ quan các cấp xem xét giải quyết."

Vậy bạn tôi có kiện người này về tội lừa đảo được không ?

Người gửi : D.H

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Để kiện một người về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản căn cứ theo điều 139 bộ luật hình sự thì bạn cần nắm rõ hơn về các yếu tố cấu thành tội danh này theo Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm phải đáp ứng các yếu tố: “dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác”. Cụ thể hơn, 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm) được thể hiện như sau:

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
-Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

-> Như vậy để khỏi kiện ông T về hành vi lừa đảo bạn cần đưa ra được những căn cứ chứng minh cho vụ việc trên. Việc bạn được kiểm tra sổ sách tài chính của công ty là quyền của cổ đông phổ thông, là cổ đông sở sở hữu 50 % cổ phần căn cứ quy định của Luật doanh nghiệp 2014:

"Điều 114. Quyền của cổ đông phổ thông

b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát."

Như vậy việc giải quyết giữa nội bộ công ty không thống nhất ý kiến, bạn có thể làm đơn ra tòa án kinh tế huyện nơi công ty có trụ sở để yêu cầu ông T hợp tác trong việc trình ra sổ sách tài chính năm, yêu cầu ông và ban giám đốc công ty quản lý hoạt động kinh doanh trình bày về sổ sách các khoản thua lỗ một cách hợp lý.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Quy định về tăng, giảm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên ?