1. Có bắt buộc phải ly thân trước khi ly hôn không ?

Thưa luật sư, xin hỏi về thủ tục ly hôn thực hiện như thế nào ? Cách thức phân chia tài sản khi tiến hành thủ tục nuôi con ? Làm sao có thể xác định được quyền nuôi con theo quy định hiện nay ? và có cần thiết phải ly thân trước khi ly hôn hay không ạ ? Cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

=> Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em và chồng không ở chung hơn 1 năm rồi vậy có được coi là ly thân không và em xin ly hôn được không? nếu em ly hôn đơn phương phải mất bao lâu ạ?

Bạn không ở chung với chồng thì có thể được coi là ly thân. Tuy nhân bạn cần xác định ly thân không phải là thủ tục bắt buộc để tiến hành ly hôn nên dù bạn ly thân hay không bạn cũng vẫn có thể yêu cầu ly hôn được.

Trường hợp bạn ly hôn đơn phương thì thời gian để Tòa án giải quyết sẽ kéo dài 4-6 tháng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vì chồng tôi thường đánh đập tôi thậm chí còn tham gia vào các tệ nạn xã hội. Tôi đòi ly hôn rồi chồng tôi bỏ đi hơn 1 năm, nhưng cứ vài ngày thì chồng tôi điện thoại về hăm he làm tôi hoang mang, tôi muốn ly hôn đơn phương nhưng không biết chồng tôi hiện giờ sống ở đâu, Vậy tôi có ly hôn đơn phương được không ?

=> Lúc này bạn phải đáp ứng điều kiện chồng bạn bỏ đi hơn 2 năm rồi bạn thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố chồng bạn mất tích thì bạn mới có thể tiến hành ly hôn đơn phương được.

Theo quy định của Bộ Luật dân sự và Bộ Luật tố tụng dân sự: Khi người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích thì người đó phải nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết với nội dung như sau:

Ngày, tháng, năm, viết đơn; tên, địa chỉ của người yêu cầu, những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết; lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó; tên địa chỉ những người có lên quan; các thông tin khác mà người yêu cầu thấy cần thiết cần cung cấp; kèm theo là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Kèm theo đơn là các chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.

Toà án sẽ xem xét đơn và thụ lý vụ án; trong thời hạn là 20 ngày, kể từ ngày thụ lý, Toà án sẽ ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng (thông báo trong 4 tháng kể từ ngày thông báo đầu tiên).

Sau 15 ngày kể từ ngày hết hạn công bố thông báo Tào án sẽ mở phiên họp xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi dang sống ly thân với chồng, muốn ly hôn nhưng chồng tôi không làm đơn mà tôi lại không có mặt ở nơi đăng ký hộ khẩu. Vậy tôi làm đơn có được giải quyết không ?

Trường hợp bạn làm đơn thuận tình ly hôn thì bạn có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà bạn hoặc chồng bạn cư trú (đăng ký thường trú hoặc tạm trú)

Trường hợp bạn làm đơn ly hôn đơn phương thì bạn phải nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà chồng bạn cư trú, bạn có thể gửi hồ sơ qua đường bưu điện, không cần thiết phải nộp trực tiếp.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em muốn ly hôn đơn phương với chồng em nhưng em không thể nào có được hộ khẩu và giấy CMND của chồng em vì em với con em có hộ khẩu riêng, còn chồng em vẫn còn hộ khẩu chung với cha mẹ. Em với chồng lấy nhau từ 2008 đến 2009 em có 1 bé trai hiện đang ở với bà nội để học được 2 năm còn em với chồng đã ly thân được 1 năm. Nay em muốn ly hôn nhưng chồng không ký nên em đơn phương ly hôn, em có đến tòa án của huyện nơi chồng em đăng ký để mua mẫu đơn và đã trình bay xong nhưng thiếu giấy CMND với hộ khẩu của chồng em thôi còn về tài sản thì chồng em đã lấy đi hết. Hiện giờ chồng em không ở nơi đăng ký thường trú mà chồng em ở thành phố. Vậy khi tòa án triệu tập chồng không có mặt vậy em có được giải quyết không?

Lúc này bạn có thể đến nơi mà chồng bạn đăng ký hộ khẩu thường trú, bạn xuất trình chứng minh nhân dân của bạn và bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn để xác nhận mình là người vợ hợp pháp của anh ấy. Sau đó bạn xin trích lục của chứng minh nhân dân và hộ khẩu của anh ấy để nộp kèm theo hồ sơ ly hôn, trong đó bạn trình bày lý do tại sao chỉ có bản trích lục. Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

"2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;"

Vậy khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà chồng bạn cố tình không đến mà không có lý do thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt chồng bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn ly hôn mà hiện giờ con tôi sống với ông bà nội vậy tới lúc ra tòa tôi có được nuôi con không?

Hiện nay con đang ở với ông bà nội nhưng đến thời điểm bạn yêu cầu giành quyền nuôi con thì Tòa án sẽ căn cứ vào độ tuổi của con, khả năng tài chính và khả năng giáo dục của 2 bên vợ, chồng để quyết định ai sẽ là người trực tiếp nuôi con.

Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em mới cưới mà bây giờ không thể chung sống với nhau được nữa vậy có ly hôn được không. Chúng em đã kết hôn được 2 tháng, do 2 bên không chung suy nghĩ, em chưa có con chung và tài sản chung.

Bạn có thể ly hôn được trong trường hợp này.

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Tư vấn thủ tục ly hôn và các vấn đề liên quan đến ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn về thủ tục ly hôn.

Trả lời:

Vấn đề 1: Thủ tục ly hôn

Hồ sơ giấy tờ cần chuẩn bị khi ly hôn bao gồm:

- Mẫu đơn ly hôn;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Bản chính);

- Chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu (Bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (Bản sao có chứng thực);

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản;

Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (đối với trường hợp ly hôn đơn phương); Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi một trong hai bên vợ chồng cư trú, làm việc (đối với trường hợp ly hôn thuận tình).

Thời gian giải quyết: 4 đến 6 tháng kể từ thời điểm thụ lý.

Vấn đề 2: Phân chia tài sản khi ly hôn

Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn được quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.".

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ tôi vừa mới ly hôn, toà phúc thẩm đã tuyên tôi được giữ nhà và phải trả cho vợ tôi 100 triệu. Nhưng hiện tại tôi không ở trong nhà mà đang ở với mẹ ruột của tôi. Nhà thì vợ tôi đang ở. Vậy cho tôi hỏi tôi muốn thi hành bản án của toà án thì phải làm sao? Làm cách nào để tôi lấy lại nhà khi mà vợ tôi không muốn dọn đi để trả nhà lại cho tôi? Thủ tục gửi cho cơ quan thi hành án gồm những gì? Thời gian khoảng bao lâu tôi mới lấy lại nhà. Kính mong luật sư tư vấn

Bạn có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án. Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định như sau:

"Điều 31. Tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án

1. Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.

Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

e) Ngày, tháng, năm làm đơn;

g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.

3. Trường hợp người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu.

4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.

5. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

b) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

c) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.”.

Thưa luật sư, vợ chồng tôi ly hôn thì phần tài sản ngai ngày cười điều là tài sản chung phải không? vậy số vàng của bên vợ cho có trình ngai ngày cười được coi là tài sản chung không?

Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.".

Tài sản này được tặng cho chung 2 vợ chồng nên sẽ được xem xét là tài sản chung của hai vợ chồng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi là chủ tịch Hội phụ nữ xã nhưng bị chồng ngược đãi, xỉ nhục thường xuyên làm ảnh hưởng tới công việc, nay tôi muốn ly hôn chồng liệu có ảnh hưởng đến công việc không ?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa bạn và chồng bạn và không ảnh hưởng, không liên quan đến công việc mà bạn đang làm.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bạn em làm trong cơ quan nhà nước mà hợp đồng đang chờ kết quả xét biên chế và có tình cảm với một chị trong cơ quan. 2 người hẹn đi cafe và đi ăn chung, có nhắn tin và gọi điện thoại rồi bị chồng phát hiện, đòi ly dị và vào cơ quan báo cho lãnh đạo. Cho em hỏi như vậy thì 2 người sẽ bị xử phạt như thế nào? Bạn lo vì sợ bị buộc thôi việc xin luật sư tư vấn giùm để tìm cách ổn thỏa!

Hiện tại pháp luật không xử lý đối với hành vi ngoại tình mà chỉ xử lý đối với hành vi chung sống như vợ chồng với người khác (cụ thể theo điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 hoặc theo điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã . Chung sống như vợ chồng được giải thích theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC là

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chng mà vn duy trì quan hệ đó ".

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Chia tài sản khi ly hôn trường hợp chồng mua nhà sống với tình nhân ?

Kính chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi như sau: Ông A kết hôn với Bà M ở Việt Nam năm 1980. Có 3 con là C, D, E. Năm 2013 ông A và bà M sống ly thân và ông A có chung sống như vợ chồng với Chị H ( là Việt Kiều ). Tháng 12/2014 ông A có mua một căn nhà tại Nhật và chung sống với chị H. Đến tháng 5/2015 ông A bị đột quỵ và qua đời không để lại di chúc.

Biết rằng ngoài ngôi nhà tại Nhật thì ông A còn có một ngôi nhà tại Quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) và hai sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Agribank (Cầu Giấy) và một sổ tại Ngân hàng của Nhật Bản. Nay bà M muốn làm đơn kiện ra Tòa án yêu cầu chia tài sản chung của Bà với ông A.

Hãy xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp này là Tòa án nào? Yêu cầu chia tài sản của bà M sẽ được giải quyết như thế nào?

Chị H cũng làm đơn yêu cầu Tòa án chia tài sản của ông A cho chị. Vậy yêu cầu của chị H có được Tòa án chấp nhận hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.N

Tư vấn thủ tục ly hôn và các vấn đề liên quan đến ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

3.1. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong trường hợp này ?

Theo như thông tin mà đề bài cung cấp thì ông A và bà M tuy đã sống ly thân nhưng chưa làm thủ tục ly hôn, chưa có quyết định / bản án có hiệu lực của Tòa án nên trong trường hợp này giữa bà M và ông A vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận.

Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về giải quyết tài sản của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:

“Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.”

Như vậy, khi ông A chết, bà M là người quản lý tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.. Khi bà M có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của ông A và bà M sẽ được chia đôi trừ trường hợp 2 vợ chồng ông bà có thỏa thuận về chế độ tài sản.

Về tòa án có thẩm quyền giải quyết :

Theo khoản 4, điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP thì:

4. Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa kế tài sản,... mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.”

Mặt khác, ông A kể từ tháng 12/2014 có chuyển sang Nhật chung sống với chị H. Nghĩa là theo quy định tại khoản 3, điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

Như vậy, nhận thấy tài sản chung của ông A và bà M bao gồm nhà, sổ tiết kiệm cho nên thẩm quyền giải quyết được xác định trong trường hợp này là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi ông A cư trú, làm việc trước khi mất. Nơi cư trú được xác định là nơi tạm trú hoặc thường trú của ông A.

3.2. Bà M được chia tài sản như thế nào ?

Để xác định bà M được chia tài sản như thế nào thì phải xác định được tài sản chung của ông A và bà M bao gồm những gì? Theo thông tin đề bài cung cấp thì tài sản được xác định trong trường hợp này bao gồm: ngôi nhà tại Nhật, một ngôi nhà tại Quận Hai Bà Trưng ( Hà Nội) và hai sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Agribank (Cầu Giấy) và một sổ tại Ngân hàng của Nhật Bản.

Để biết đây có phải là những tài sản chung của vợ chồng ông A bà M hay không thì phải căn cứ vào các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Sổ tiết kiệm đứng tên ai, giữa vợ chồng ông A bà M có tồn tại thỏa thuận nào về tài sản hay không), và công sức đóng góp trong việc xây dựng, tạo lập, duy trì khối tài sản chung.

Sau khi xác định được tài sản chung thì bà M sẽ được phân chia tài sản như sau: tài sản riêng của bà M thuộc về bà M, tài sản chung của bà và ông A thì bà sẽ được chia đôi.

Đối với phần tài sản của ông A khi ông A mất sẽ được chia thừa kế theo pháp luật ( do ông mất không để lại di chúc). Theo đó, người được hưởng phần tài sản của ông A bao gồm những người theo điều 651 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.''

Như vậy, bà M được chia ½ tài sản trong khối chung với ông A và phần di sản ông A để lại, cụ thể là ¼ tài sản ông A để lại ( do xác định có 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất: Bao gồm: Bà M, 3 người con là C, D, E)

3.3. Chị H cũng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung có được chấp nhận không ?

Việc ông A và chị H sống chung trong khi ông A chưa ly hôn với bà M là trái quy định của pháp luật. Song pháp luật chỉ không công nhận quan hệ hôn nhân, đối với quan hệ tài sản thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết, cụ thể :

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về quan hệ tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng như sau:

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Theo quy định này, thì khi nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quan hệ hôn nhân cũng nhưng không phát sinh quan hệ tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này, nếu chị M chứng minh được chị cũng có đóng góp vào phần tài sản của ông A thì chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị theo chế độ tài sản chung được quy định tại Bộ luật dân sự.

Như vậy, nếu chị H làm đơn yêu cầu chia tài sản với ông A thì trong trường hợp này Tòa án vẫn chấp nhận đơn yêu cầu chia tài sản của bà H vì bà H trong trường hợp này hoàn toàn có quyền gửi đơn đến Tòa để yêu cầu giải quyết quyền lợi của mình.

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Quyền đòi chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi và chồng tôi hiện có con chung 1 đứa 1 tuổi và 1 đứa đang còn nằm trong bụng. Tôi và chồng tôi sống không hợp nhau. Vậy xin hỏi luật sư tôi muốn đơn phương ly hôn thì làm thế nào để giành quyền nuôi được 2 đứa con. Hiện chúng tôi chưa có tài sản chung gì, không có nợ chung. Hiện tại có 1 mảnh đất đứng tên chồng tôi. Vậy tôi có quyền đòi chia tài sản không ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Quyền ly hôn và căn cứ cho ly hôn

+ Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

+ Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện về tình trạng vợ chồng mẫu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.

Nếu chứng minh được ình trạng vợ chồng mẫu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được thì bạn có quyền đơn phương ly hôn ở tòa án nơi chồng bạn cư trú.

Về vấn đề đòi chia tài sản Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.".

Như vậy, về nguyên tắc, nếu mảnh đất đó đứng tên chồng bạn nhưng có trong thời kỳ hôn nhân, không thuộc trường hợp chồng bạn được tặng cho riêng, thừa kế riêng...thì đây được xem xét là tài sản chung của vợ chồng. Bạn có quyền được yêu cầu phân chia.

Nếu mảnh đất này chồng bạn có trước thời kỳ hôn nhân, hoặc có trong thời kỳ hôn nhân nhưng được tặng cho riêng, thừa kế riêng thì đây là tài sản riêng của chồng bạn. Ban không được phân chia.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn ly hôn đơn phương trong trường hợp giấy đăng ký kết hôn không còn?

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Tư vấn thủ tục ly hôn với chồng là người Đài Loan ?

​Xin Chào Luật Sư. Xin được tư vấn thủ tục ly hôn với Chồng mang Quốc Tịch Đài Loan. Năm 2012 Tôi đăng ký kết hôn với chồng Tôi Tại TP Hồ Chí Minh. Chồng của Tôi là người Đài Loan. Tôi chưa đi qua Đài Loan vì xin visa nhập cảnh không được, Tháng 6 năm 2019 Tôi có nộp đơn cho Tòa án Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh xin Ly Hôn vắng mặt Với Chồng Tôi.
Tòa Án có thụ lý hồ sơ của tôi và kêu tôi về chờ Tòa án gửi thông báo qua bưu điện. Xin hỏi tôi ly hôn với chồng của tôi được không và thời gian giải quyết ly hôn khoảng bao lâu ạ. Tôi có thể thuê luật sư để làm thủ tục ly hôn nhanh hơn được không ?
Cảm ơn luật sư đã xem câu hỏi của tôi.

Tư vấn thủ tục ly hôn với chồng là người Đài Loan ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài được pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Vấn đề ly hôn trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được xem là quyền dân sự của mỗi bên và được pháp luật bảo hộ.

Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc Ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

"Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó."

- Hồ sơ ly hôn có yếu tố nước ngoài:

+ Giấy chứng nhận kết hôn: Giấy chứng nhận kết hôn bản gốc. Nếu không có giấy chứng nhận kết hôn bản gốc có thể thay thế bằng bản sao do chính cơ quan nhà nước nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cấp;

+ Giấy khai sinh của các con (nếu có )

+ Giấy tờ của bên có quốc tịch Việt Nam gồm: · Bản sao chứng thực CMTND; · Bản sao chứng thực hộ khẩu;

+ Giấy tờ của bên có quốc tịch nước ngoài: Bản sao hộ chiếu hoặc visa đã được hợp pháp hóa lãnh sự; · Đơn xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết ly hôn tại tòa án Việt Nam đã được hợp pháp hóa lãnh sự

+ Đơn xin ly hôn: Đơn xin ly hôn do bên không có quốc tịch Việt Nam làm và thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự rồi chuyển về cho bên có quốc tịch Việt Nam ký. Về tài sản chung và con chung hai bên có thể tự thỏa thuận giải quyết hay yêu cầu tòa giải quyết và ghi rõ trong đơn xin ly hôn.

- Nơi nộp hồ sơ: TAND cấp tỉnh,Thành phố trực thuộc trung ương nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú.

- Thời gian giải quyết: theo quy định của Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật qui định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?