- 1. Có căn cứ xác định bị can phạm thêm một tội khác thì cơ quan điều tra xử lý thế nào?
- 2. Được thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu như hành vi của bị can phạm vào khoản khác của cùng tội danh đã khởi tố không?
- 3. Trong trường hợp nào ở giai đoạn truy tố, Viện Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án?
1. Có căn cứ xác định bị can phạm thêm một tội khác thì cơ quan điều tra xử lý thế nào?
Căn cứ vào Điều 9 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, quy định về việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trong các trường hợp phạm tội có nhiều hành vi hoặc phạm nhiều tội. Đối với trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng thời điểm, sẽ chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra phát hiện bị can còn hành vi phạm tội chưa bị khởi tố, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định bổ sung khởi tố vụ án hình sự. Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau nhưng cùng thời điểm, cơ quan chức năng sẽ đưa ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự và ghi rõ các tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự áp dụng. Trong trường hợp các hành vi phạm tội có liên quan chặt chẽ với nhau, ví dụ, hành vi trước là tiền đề để thực hiện hành vi sau, thì cũng chỉ ra một quyết định khởi tố với đầy đủ thông tin tội danh và điều khoản áp dụng. Đặc biệt, khi bị can phạm tội ở nhiều thời điểm khác nhau, thuộc các tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng lúc, cơ quan điều tra vẫn chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án và ghi rõ từng tội danh liên quan. Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các cấp điều tra khác nhau, cơ quan điều tra cấp dưới phải thống nhất với Viện kiểm sát để chuyển vụ án cho cấp trên điều tra. Ngoài ra, nếu Viện kiểm sát phát hiện có cá nhân hoặc pháp nhân chưa bị khởi tố trong vụ án, hoặc có căn cứ cho rằng hành vi phạm tội của bị can không đúng với tội đã bị khởi tố, hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa được khởi tố, Viện kiểm sát có thể yêu cầu khởi tố bổ sung hoặc trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để tiếp tục làm rõ. Nếu cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát sẽ ra quyết định khởi tố bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố và gửi cho cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra theo quy định.
Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau, nếu hành vi phạm tội trước là điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội sau, hoặc các hành vi phạm tội có sự liên quan chặt chẽ với nhau, cơ quan chức năng sẽ chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự duy nhất và một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội. Trong quyết định này, cơ quan điều tra sẽ ghi rõ từng tội danh và các điều, khoản cụ thể của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với từng hành vi phạm tội. Điều này nhằm đảm bảo việc xử lý đồng bộ và đầy đủ các hành vi phạm tội mà bị can đã thực hiện, tránh việc khởi tố riêng biệt cho từng hành vi mà không xem xét mối liên hệ giữa chúng.
Ngoài ra, nếu trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát hoặc cơ quan điều tra phát hiện ra rằng hành vi phạm tội của bị can không thuộc phạm vi của tội đã bị khởi tố hoặc có hành vi phạm tội khác chưa được khởi tố, thì cơ quan điều tra sẽ phải xem xét việc khởi tố bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp này, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành các thủ tục điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo quá trình điều tra được thực hiện đầy đủ, chính xác và công bằng. Điều này cũng nhằm đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội của bị can được phát hiện và xử lý đúng đắn, không bỏ sót bất kỳ hành vi phạm tội nào.
2. Được thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu như hành vi của bị can phạm vào khoản khác của cùng tội danh đã khởi tố không?
Căn cứ vào Điều 8 của Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, quy định về việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, các cơ quan chức năng phải tuân thủ các thủ tục chặt chẽ nhằm đảm bảo tính chính xác và hợp lý trong quá trình xử lý vụ án. Cụ thể, trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự cùng các tài liệu liên quan từ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét và xử lý quyết định đó. Nếu nhận thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung khởi tố vụ án chưa rõ ràng về căn cứ, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung các chứng cứ, tài liệu cần thiết để làm rõ vụ án. Trường hợp nếu Viện kiểm sát nhận thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung khởi tố vụ án không có căn cứ hợp lý, họ có thể yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định đó. Nếu Cơ quan điều tra không đồng ý, Viện kiểm sát có quyền ra quyết định hủy bỏ theo quy định tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó, khi có căn cứ để thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát sẽ yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện thay đổi hoặc bổ sung quyết định này. Theo quy định, chậm nhất trong vòng 03 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung. Nếu Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu này, Viện kiểm sát có quyền tự ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Điều này nhằm đảm bảo rằng quá trình điều tra và xử lý vụ án không bị chậm trễ hoặc bỏ sót các hành vi phạm tội cần phải được làm rõ.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ không được thực hiện nếu qua quá trình điều tra xác định rằng hành vi của bị can vẫn phạm vào một khoản khác của tội danh đã bị khởi tố. Ví dụ, nếu ban đầu quyết định khởi tố Nguyễn Văn A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nhưng trong quá trình điều tra phát hiện hành vi của bị can lại thuộc khoản 1 hoặc khoản 3 của Điều 173, thì không cần phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Điều này giúp tránh sự rườm rà trong thủ tục và đảm bảo tính hợp lý trong việc áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự đối với từng hành vi cụ thể.
Theo quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ không được thực hiện trong trường hợp qua quá trình điều tra, cơ quan chức năng xác định rằng hành vi của bị can vẫn phạm vào một khoản khác của tội danh đã bị khởi tố. Điều này có nghĩa là, nếu hành vi phạm tội của bị can không thay đổi về bản chất tội danh đã khởi tố, dù có sự thay đổi về các điều khoản áp dụng trong Bộ luật Hình sự, thì không cần thiết phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ví dụ, khi một bị can bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nhưng trong quá trình điều tra, hành vi của bị can lại phù hợp với các khoản khác của cùng tội danh, chẳng hạn khoản 1 hoặc khoản 3 của Điều 173, thì quyết định khởi tố vụ án hình sự không cần phải thay đổi.
Việc không thay đổi quyết định khởi tố trong trường hợp này nhằm tránh sự rườm rà và phức tạp trong thủ tục tố tụng, đồng thời bảo đảm rằng vụ án được xử lý thống nhất và phù hợp với quy định của pháp luật. Việc chỉ điều chỉnh các điều khoản trong Bộ luật Hình sự mà không thay đổi tội danh cơ bản cũng giúp đơn giản hóa quá trình điều tra và xét xử, tránh làm gián đoạn hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Thực tế, những sự thay đổi về khoản của tội danh trong Bộ luật Hình sự chỉ mang tính chất điều chỉnh mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, không làm thay đổi bản chất vụ án. Vì vậy, quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với bị can vẫn được giữ nguyên, chỉ cần làm rõ các yếu tố liên quan để áp dụng đúng mức độ và điều khoản xử lý.
3. Trong trường hợp nào ở giai đoạn truy tố, Viện Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, được bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại giai đoạn truy tố, Viện Kiểm sát có quyền quyết định tạm đình chỉ vụ án trong một số trường hợp cụ thể. Đây là một biện pháp tạm thời nhằm bảo đảm việc điều tra, truy tố được thực hiện một cách đầy đủ và chính xác, đồng thời không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình tố tụng.
Cụ thể, tạm đình chỉ vụ án có thể xảy ra trong các trường hợp sau: Thứ nhất, khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo, Viện Kiểm sát có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố. Điều này nhằm đảm bảo rằng bị can không bị xét xử khi không đủ khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình do bệnh tật. Thứ hai, nếu bị can bỏ trốn và không rõ đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định truy tố, trong trường hợp này, Viện Kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc này giúp đảm bảo bị can có thể bị xử lý khi bị bắt giữ.
Thứ ba, khi các yêu cầu giám định, định giá tài sản, hoặc yêu cầu tương trợ tư pháp quốc tế từ nước ngoài vẫn chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định truy tố, Viện Kiểm sát có thể tạm đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, các thủ tục như giám định, định giá tài sản, và yêu cầu tương trợ tư pháp sẽ vẫn tiếp tục cho đến khi có kết quả, giúp đảm bảo không bỏ sót bất kỳ chứng cứ quan trọng nào. Cuối cùng, tạm đình chỉ vụ án cũng có thể được áp dụng khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố do lý do bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, nhưng đã hết thời hạn quyết định truy tố. Trong trường hợp này, Viện Kiểm sát cần cân nhắc tình hình thực tế và đảm bảo mọi hoạt động tố tụng sẽ tiếp tục khi điều kiện cho phép.
Ngoài ra, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các thủ trưởng cơ quan có liên quan để quy định chi tiết về các trường hợp tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố. Các quy định này nhằm đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và công bằng trong quá trình tố tụng hình sự, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong vụ án.
Xem thêm bài viết: Trong một tội danh luôn phải có ba loại cấu thành tội phạm đó là: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ?
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.