Do tầm quan trọng đặc biệt này, pháp luật Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt trong việc bảo vệ các công trình hạ tầng thiết yếu này. Trong đó, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) đã đưa ra một tội danh mới, cụ thể, nhằm xử lý các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ an toàn các công trình này, đó là Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông được quy định tại Điều 238.

Tội danh này được đặt trong Chương XVII của BLHS, thuộc nhóm các tội phạm về môi trường, cho thấy sự nhìn nhận của nhà làm luật về mối quan hệ mật thiết giữa việc bảo vệ các công trình thủy lợi, đê điều với việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và sự ổn định của hệ thống phòng chống thiên tai. Việc bổ sung Điều 238 thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật hình sự đối với những hành vi xâm hại các công trình quan trọng này, một bước tiến quan trọng so với BLHS năm 1999. Tội danh này không chỉ hướng tới bảo vệ tài sản công mà còn bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của cộng đồng, đồng thời duy trì trật tự quản lý nhà nước trong một lĩnh vực nhạy cảm và thiết yếu.

Tội danh quy định tại Điều 238 BLHS 2015 có tính chất là một tội phạm quy chiếu (reference crime), nghĩa là hành vi phạm tội chỉ có thể được xác định khi đối chiếu với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. 

 

1. Cấu thành Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều

Một hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này khi thoả mãn 04 yếu tố cấu thành tội phạm như sau:

1.1.Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đối với tội danh tại Điều 238, khách thể trực tiếp là trật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng chống thiên tai và bờ, bãi sông. Việc xâm hại các quy định quản lý này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến an toàn công trình, môi trường và an toàn của cộng đồng dân cư.

Đối tượng tác động của tội phạm là các tài sản vật chất như:

  • Công trình thủy lợi: Bao gồm hồ chứa nước, đập, cống, kênh, trạm bơm, âu thuyền....
  • Đê điều: Gồm đê sông, đê biển và các công trình liên quan.
  • Công trình phòng chống thiên tai: Bao gồm cả các công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
  • Bờ và bãi sông: Là những khu vực có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự ổn định của dòng chảy và an toàn đê điều.

Hành vi phạm tội không chỉ gây tổn hại về mặt vật chất cho các công trình này mà còn làm mất đi chức năng vốn có của chúng, gây ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, vận hành của Nhà nước và tiềm ẩn nguy cơ gây ra những hậu quả lớn hơn cho cộng đồng.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

1.2.1. Hành vi

Mặt khách quan của tội phạm này là việc thực hiện một trong các hành vi vi phạm pháp luật được liệt kê tại Khoản 1 Điều 238 BLHS. Các hành vi này được xác định là hành vi trái pháp luật do vi phạm các quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều. Các hành vi cụ thể bao gồm:

  • Xây dựng nhà, công trình trái phép: Việc xây dựng các công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều là hành vi phổ biến.
  • Làm hư hỏng công trình: Hành vi này bao gồm việc gây tổn hại về vật chất cho công trình.
  • Khoan, đào, khai thác trái phép: Các hành vi khai thác đất, đá, cát, sỏi, khoáng sản trong phạm vi bảo vệ công trình có thể làm thay đổi dòng chảy, gây sạt lở bờ đê và các hậu quả nghiêm trọng khác.
  • Sử dụng chất nổ, gây nổ, gây cháy: Hành vi này gây ra nguy cơ cao làm hư hỏng cấu trúc của công trình.
  • Vận hành không đúng quy trình: Đối với các công trình phức tạp như hồ chứa, việc vận hành không đúng quy trình kỹ thuật có thể dẫn đến hậu quả khó lường, gây mất an toàn cho vùng hạ du.

Một điểm quan trọng của tội danh này là hành vi vi phạm chỉ cấu thành tội phạm khi và chỉ khi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở một mức độ nhất định. Điều này cho thấy đây là một tội phạm có cấu thành vật chất, khác với nhiều tội danh khác có cấu thành hình thức.

1.2.2. Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này. Các hậu quả được định lượng rõ ràng tại Khoản 1 Điều 238 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025, bao gồm :

  • Thiệt hại về sức khỏe: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
  • Thiệt hại về tài sản: Gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.
  • Thiệt hại về tính mạng: Gây chết người, gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho nhiều người, hoặc gây thiệt hại tài sản lớn hơn được quy định tại các khoản 2 và 3 của điều luật.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định chính xác hậu quả, đặc biệt là việc định giá thiệt hại tài sản, thường gặp nhiều khó khăn. Các công trình thủy lợi, đê điều có giá trị lớn và tính chất đặc thù, thường xuyên được duy tu, sửa chữa. Quy trình định giá tài sản trong tố tụng hình sự được thực hiện bởi Hội đồng định giá , nhưng các văn bản hướng dẫn thường tập trung vào các tội xâm phạm sở hữu, chưa có hướng dẫn cụ thể về phương pháp định giá các loại công trình đặc thù này. Sự thiếu vắng các quy định chi tiết này có thể làm chậm trễ quá trình điều tra, gây lúng túng cho các cơ quan tố tụng trong việc xác định đúng ngưỡng thiệt hại để truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm này là sự kết hợp phức tạp giữa ý chí và nhận thức của người phạm tội, được gọi là lỗi hỗn hợp. Theo các phân tích pháp lý, người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm quy định với lỗi cố ý, nhưng đối với hậu quả nguy hiểm, họ lại thực hiện với lỗi vô ý.

  • Cố ý đối với hành vi: Người phạm tội nhận thức rõ rằng hành vi của mình (ví dụ: khai thác cát trái phép, xây dựng công trình trong hành lang bảo vệ) là trái pháp luật và có thể gây nguy hiểm cho xã hội. Họ mong muốn thực hiện hành vi đó.
  • Vô ý đối với hậu quả: Người phạm tội không mong muốn hậu quả nghiêm trọng (ví dụ: vỡ đê, ngập lụt, chết người) xảy ra. Tuy nhiên, họ có thể do cẩu thả, không thấy trước hậu quả hoặc tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra, mặc dù họ có nghĩa vụ và hoàn toàn có khả năng thấy trước và ngăn ngừa được.

Việc chứng minh yếu tố lỗi hỗn hợp này đòi hỏi nghiệp vụ điều tra chuyên sâu và là một thách thức lớn trong thực tiễn, khác với các tội phạm có lỗi cố ý hoàn toàn (ví dụ: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 BLHS) hay vô ý hoàn toàn (ví dụ: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 360 BLHS).

1.4. Phân tích chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội. Đối với tội danh này:

  • Chủ thể cá nhân: Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự (đạt độ tuổi và khả năng nhận thức theo quy định của BLHS). Đây không phải là một tội phạm có chủ thể đặc biệt (chỉ dành cho người có chức vụ, quyền hạn).
  • Chủ thể pháp nhân thương mại: Đây là một điểm mới được bổ sung trong BLHS 2015 so với BLHS 1999. Pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của tội danh này nếu hành vi vi phạm được thực hiện nhân danh pháp nhân và gây ra hậu quả theo quy định tại Điều 238. Việc bổ sung này thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật trong việc xử lý các vi phạm do các tổ chức kinh doanh gây ra, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên.

 

2. Khung hình phạt Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều

Nội dung Điều 238 BLHS năm 2015 quy định về tội danh này như sau:

Điều 238. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Xây nhà, công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai;

b) Hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp quy định tại Điều 303 của Bộ luật này;

c) Khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép;

d) Sử dụng chất nổ, gây nổ, gây cháy trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp có giấy phép hoặc trường hợp khẩn cấp do luật định;

đ) Vận hành hồ chứa nước, liên hồ chứa nước, công trình phân lũ, làm chậm lũ không đúng với quy trình, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo sự chỉ đạo của người có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm chết người;

d) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

Những thay đổi quan trọng của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm:

Thứ nhất, đưa pháp nhân thương mại vào đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự bằng cách sửa đổi, bổ sung Điều 76 (Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại) đưa điều 238 vào đối tượng điều chỉnh của nội dung này. (Xem quy định tại Điểm 11 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Thứ hai, sửa đổi nội dung khoản 1, 2 và 3 Điều 238 và đểm c khoản 5 Điều 238 (theo Điểm 60 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

60. Sửa đổi, bổ sung Điều 238 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2 và 3 Điều 238 như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 303 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Xây nhà, công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai;

b) Làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;

c) Khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép;

d) Sử dụng chất nổ, gây nổ, gây cháy trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp có giấy phép hoặc trường hợp khẩn cấp do luật định;

đ) Vận hành hồ chứa nước không đúng quy trình vận hành hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa; vận hành công trình phân lũ, làm chậm lũ không đúng với quy trình, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm chết người;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

đ) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 5 Điều 238 như sau:

“c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;”.

Những thay đổi quan trọng của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với Điều 238 như sau:

Thứ nhất, căn cứ điểm 12 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định thay đổi nội dung điều 238 như sau:

Điều 238. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 303 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Xây nhà, công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai;

b) Làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;

c) Khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép;

d) Sử dụng chất nổ, gây nổ, gây cháy trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, trừ trường hợp có giấy phép hoặc trường hợp khẩn cấp do luật định;

đ) Vận hành hồ chứa nước không đúng quy trình vận hành hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa; vận hành công trình phân lũ, làm chậm lũ không đúng với quy trình, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, trừ trường hợp đặc biệt thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm chết người;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

đ) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

Thứ hai, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp khi áp dụng điều 238 như sau: "c) Quy định không có lợi cho người phạm tội tại các điều ... 238... của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 để giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;"

Tóm lại: Từ các quy định pháp luật trên có thể khẳng định tại thời điểm hiện tại hình phạt áp dụng với điều 238 Bộ luật hình sự năm 2015 đã bị thay đổi gần như hoàn toàn và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 để điều tra, truy tố, xét xử các hành vi vi phạm quy định tại Điều 238.

2.1. Khung hình phạt chính, hình phạt bổ sung

Căn cứ Điều 238 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định một hệ thống hình phạt được phân hóa rõ ràng theo mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra, áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân thương mại.

Khung Hình phạt Đối với Cá nhân Đối với Pháp nhân thương mại
Khung cơ bản (Khoản 1)

Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng.

Khung tăng nặng 1 (Khoản 2)

Phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Áp dụng khi có các tình tiết: Có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

Phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng

Khung tăng nặng 2 (Khoản 3)

Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Áp dụng khi có các tình tiết: Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

Phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm.

Hình phạt bổ sung (khoản 4)

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm.

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

Có thể nhận thấy, mức phạt tiền của Điều 238 Bộ Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tăng cao hơn nhiều lần so với quy định định cũ của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Sự phân hóa hình phạt này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa các hành vi vi phạm, đặc biệt là các hành vi có tính chất nguy hiểm cao.

2.2. Các vi phạm hành chính liên quan và mức xử phạt

Các hành vi vi phạm an toàn công trình thủy lợi, đê điều khi chưa gây hậu quả đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

  • Nghị định 104/2017/NĐ-CP: mặc dù đã hết hiệu lực, nhưng từng là cơ sở pháp lý quan trọng để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đê điều và thủy lợi. Nghị định này quy định chi tiết các mức phạt tiền cho nhiều hành vi, từ vi phạm nhỏ như cuốc, xới, rẫy cỏ trên mái đê (phạt 100.000 - 300.000 đồng) đến các hành vi nghiêm trọng hơn như xây dựng công trình trái phép hoặc khai thác khoáng sản trong phạm vi bảo vệ đê điều (phạt 50.000.000 - 60.000.000 đồng).
  • Phân tích Nghị định 03/2022/NĐ-CP: Ban hành ngày 06/01/2022, đã thay thế và cập nhật các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; thủy lợi; đê điều. Nghị định này đã nâng cao mức phạt tối đa, thể hiện sự quyết tâm mạnh mẽ hơn của Chính phủ trong việc răn đe và xử lý các vi phạm. Cụ thể, mức phạt tiền tối đa cho các vi phạm trong lĩnh vực thủy lợi là 250.000.000 đồng và lĩnh vực đê điều là 100.000.000 đồng. Các hành vi cụ thể và mức phạt cũng được quy định chi tiết hơn, ví dụ như làm hư hỏng công trình kè gây thiệt hại dưới 100.000.000 đồng có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

2.3. Ranh giới pháp lý giữa vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự

Ranh giới pháp lý giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự là vấn đề cốt lõi. Như đã phân tích, ranh giới này chủ yếu dựa vào mức độ của "hậu quả nghiêm trọng".

  • Vi phạm hành chính: Các hành vi vi phạm quy định pháp luật trong lĩnh vực thủy lợi, đê điều nhưng chưa gây ra hậu quả (hoặc hậu quả chưa đủ mức) để truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý bằng biện pháp hành chính, với mức phạt tiền tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, theo các Nghị định như Nghị định 03/2022/NĐ-CP.
  • Vi phạm hình sự: Khi hành vi vi phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng về tài sản (từ 50.000.000 đồng trở lên), tính mạng, sức khỏe con người, thì người vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 238 BLHS.

Có thể thấy, ranh giới này rất rõ ràng về mặt lý thuyết nhưng lại thiếu tính khả thi trong thực tiễn. Vấn đề nằm ở việc chứng minh và định lượng hậu quả. Ví dụ, việc xác định chính xác giá trị thiệt hại của một phần đê bị sạt lở hoặc đánh giá nguy cơ tiềm tàng của một công trình trái phép là phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan chuyên môn. Sự khó khăn này là một trong những nguyên nhân khiến nhiều vi phạm chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính.

Bảng dưới đây tổng hợp và so sánh một cách chi tiết các mức xử phạt đối với vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, dựa trên các tiêu chí quan trọng.

Tiêu chí Vi phạm hành chính Trách nhiệm hình sự
Cơ sở pháp lý

Nghị định 03/2022/NĐ-CP

Điều 238 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017 và năm 2025)

Hành vi

Các hành vi vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình, chưa gây hậu quả hoặc hậu quả chưa đạt mức nghiêm trọng. Ví dụ: lấn chiếm, xây dựng, khai thác trái phép.

Các hành vi vi phạm tương tự nhưng đã gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Mức độ thiệt hại/Hậu quả

Thiệt hại chưa đủ mức để truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức độ vi phạm được định lượng bằng khối lượng, diện tích, hoặc giá trị vật chất thấp hơn ngưỡng hình sự.

Thiệt hại từ 50.000.000 đồng trở lên. Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác (tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên). Làm chết người.

Hình thức xử phạt

- Phạt tiền (từ 100.000 đồng đến 250.000.000 đồng). - Cảnh cáo. - Biện pháp khắc phục hậu quả.

Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng. Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (Khoản 1, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (Khoản 2, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (Khoản 3, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025)

Hình phạt bổ sung: Cá nhân áp dụng khoản 4, Pháp nhân áp dụng 5.

Đối tượng

Cá nhân, tổ chức.

Cá nhân, pháp nhân thương mại.

2.4. Ví dụ minh họa từ thực tiễn xét xử

Một công ty A được cấp phép khai thác khoáng sản trên một dòng sông. Tuy nhiên, thay vì tuân thủ quy trình, công ty đã mở rộng phạm vi khai thác cát trái phép vào khu vực hành lang bảo vệ của một con đê bao. Mặc dù đã bị chính quyền địa phương lập biên bản xử phạt hành chính nhiều lần, nhưng công ty vẫn tiếp tục vi phạm. Việc khai thác kéo dài đã làm thay đổi dòng chảy, gây sạt lở nghiêm trọng tại chân đê.

Vào một đợt mưa lớn, mực nước sông dâng cao đột ngột, áp lực nước kết hợp với phần chân đê bị sạt lở đã dẫn đến sự cố vỡ đê một đoạn. Hậu quả là nước sông tràn vào vùng hạ du, làm ngập úng hàng trăm hecta đất nông nghiệp và nhiều nhà dân. Công tác giám định thiệt hại cho thấy giá trị tài sản bị hư hỏng của người dân và Nhà nước (bao gồm cả chi phí khôi phục công trình) lên đến 1,2 tỷ đồng, và một số người dân bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 150%.

Trong vụ án này:

  • Hành vi: Công ty A đã thực hiện hành vi khai thác cát trái phép trong phạm vi bảo vệ đê điều.
  • Hậu quả: Gây thiệt hại về tài sản 1 tỷ đồng trở lên và gây thương tích cho nhiều người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 122%, đủ yếu tố cấu thành tội phạm tại Khoản 3, Điều 238 BLHS.
  • Mặt chủ quan: Công ty A đã cố ý thực hiện hành vi khai thác cát trái phép để thu lợi bất chính. Tuy nhiên, đối với hậu quả vỡ đê và thiệt hại lớn, công ty đã vô ý vì không thấy trước được, mặc dù hoàn toàn có thể lường trước được nếu tuân thủ các quy định về an toàn.

Thách thức tố tụng: Để truy tố thành công, cơ quan tố tụng phải đối mặt với thách thức lớn là việc định giá chính xác giá trị thiệt hại 1,2 tỷ đồng, vốn là một con số phức tạp, đòi hỏi phải thành lập Hội đồng định giá với sự tham gia của các chuyên gia về xây dựng, thủy lợi.

 

3. Phân biệt với các tội danh có liên quan khác

Việc phân biệt tội danh tại Điều 238 BLHS với các tội danh khác là cần thiết để đảm bảo áp dụng pháp luật chính xác.

Tiêu chí Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều (Điều 238) Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178) Tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303)
Khách thể Trật tự quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy lợi, đê điều. Quyền sở hữu tài sản. An ninh quốc gia.
Mức độ thiệt hại

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc. Chỉ bị xử lý hình sự khi gây ra hậu quả định lượng được về tài sản, sức khỏe, tính mạng.

Thiệt hại tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp nhất định.

Mức độ nguy hiểm đặc biệt lớn, thường gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Ý thức chủ quan

Lỗi hỗn hợp: cố ý đối với hành vi nhưng vô ý đối với hậu quả.

Lỗi cố ý.

Lỗi cố ý trực tiếp.

Đối tượng tác động Các công trình thủy lợi, đê điều, bờ bãi sông. Tài sản nói chung (không có tính chất đặc thù).

Các công trình có tính chất đặc biệt quan trọng về an ninh quốc gia.

Mối quan hệ

Là một tội danh độc lập, nhưng có câu chữ "nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 303" để loại trừ trường hợp hành vi vi phạm có tính chất phá hoại an ninh quốc gia.

Là tội danh khác nhau về khách thể và ý thức chủ quan. Là tội danh khác nhau về khách thể, mức độ nguy hiểm, và ý thức chủ quan.

 

4. Các vướng mắc, bất cập và kiến nghị giải pháp hoàn thiện

Tình trạng vi phạm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều diễn ra phổ biến và phức tạp tại nhiều địa phương, với các hành vi như xây dựng trái phép, lấn chiếm, và khai thác cát sỏi trái phép. Mặc dù các vụ việc này thường được xử lý hành chính, nhưng việc chuyển hóa thành vụ án hình sự vẫn còn hạn chế.

Một trong những vướng mắc lớn nhất trong hoạt động tố tụng là việc xác định và định giá thiệt hại. Mặc dù thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng thiếu các văn bản hướng dẫn chuyên biệt về phương pháp định giá các loại công trình đặc thù này. Điều này làm cho quá trình điều tra gặp khó khăn, kéo dài và gây lúng túng cho các cơ quan tố tụng. Ngoài ra, việc thiếu các án lệ hoặc bản án công khai về tội danh này trên các cổng thông tin chính thức (ví dụ như bản án về các Điều 229, 230 BLHS) khiến việc áp dụng pháp luật thiếu sự thống nhất, các cơ quan tố tụng phải tự tìm tòi, học hỏi từ kinh nghiệm thực tiễn mà không có cơ sở pháp lý vững chắc để tham khảo.

Một vướng mắc khác nằm ở công tác quản lý nhà nước. Các vi phạm thường xảy ra do ý thức tự giác của người dân chưa cao, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng còn hạn chế và chế tài xử phạt hành chính chưa đủ mạnh để răn đe. Chính quyền địa phương đôi khi thiếu sự chỉ đạo quyết liệt và thiếu sự quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ các công trình thủy lợi, đê điều, coi đó là trách nhiệm riêng của ngành thủy lợi.

Để nâng cao hiệu quả áp dụng Điều 238 BLHS, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện pháp luật đến nâng cao hiệu quả thực thi.

  • Hoàn thiện pháp luật cần ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, thống nhất về quy trình định giá tài sản đối với các công trình thủy lợi, đê điều và các thiệt hại liên quan. Đề xuất một Thông tư liên tịch giữa Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể là giải pháp hữu hiệu để giải quyết nút thắt này. Đồng thời, cần có các quy định rõ ràng hơn để phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự, tránh việc tùy tiện áp dụng pháp luật.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi cần tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ quan tố tụng. Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên hơn để phát hiện và xử lý sớm các vi phạm, ngăn chặn việc phát sinh hậu quả nghiêm trọng.

Kết luận

Phân tích cho thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ để xử lý các hành vi vi phạm an toàn công trình thủy lợi, đê điều. Từ các điều cấm trong luật chuyên ngành đến các văn bản xử phạt hành chính và Bộ luật Hình sự, các quy định đều hướng đến mục tiêu bảo vệ tối đa các công trình này.

Tuy nhiên, bài viết đã chỉ ra một khoảng trống đáng kể giữa lý thuyết và thực tiễn, cụ thể là việc thiếu vắng các vụ án hình sự được công khai mặc dù các vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng vẫn xảy ra. Nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này là sự phụ thuộc của tội danh hình sự vào yếu tố "hậu quả nghiêm trọng". Việc xác định và chứng minh mức độ hậu quả này trong thực tế là thách thức lớn nhất, khiến nhiều vi phạm chỉ bị xử lý ở mức hành chính, làm giảm tính răn đe của pháp luật.

Do đó, để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý vi phạm trong tương lai, cần một giải pháp tổng thể, kết hợp cả ba khía cạnh: hoàn thiện thể chế pháp luật bằng cách làm rõ hơn các tiêu chí định tội, tăng cường năng lực thực thi và giám sát của các cơ quan chức năng, và đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của cộng đồng. Chỉ khi khắc phục được khoảng trống trong việc chuyển đổi từ vi phạm hành chính sang hình sự, tội danh này mới có thể phát huy hết hiệu quả, góp phần bảo vệ an toàn cho các công trình thủy lợi, đê điều và đảm bảo sự an toàn cho hàng triệu người dân.

Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến1900.6162 để được hỗ trợ một cách cụ thể và chi tiết nhất