1. Quy tắc xuất xứ và ý nghĩa của quy tắc xuất xứ.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, định nghĩa xuất xứ hàng hóa được nêu trong Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO như sau:

Một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó thì nước xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng.

Như vậy, Hiệp định nhìn nhận xuất xứ hàng hóa dựa trên phương pháp xác định nước xuất xứ theo tiêu chí sản xuất hoàn toàn hoặc theo công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng tại một quốc gia. Xuất xứ giống như “quốc tịch” của hàng hóa, quy tắc xuất xứ giúp cơ quan hải quan xác định được hàng hóa đến từ đâu và có được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA hay không.

Các FTA một mặt mở ra môi trường thuận lợi cho hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia nội khối, mặt khác lại làm phát sinh số lượng lớn hành vi gian lận thương mại. Một bộ quy tắc xuất xứ thích hợp sẽ giúp việc quản lý xuất xứ hàng hóa trong FTA, góp phần phòng chống gian lận thương mại. Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng hóa, doanh nghiệp sẽ tích cực tìm kiếm và sản xuất nguyên phụ liệu, hàng hóa trong phạm vi FTA, kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các lãnh thổ thành viên FTA.

Trên thực tế, với hoạt động toàn cầu hóa như hiện nay, việc xác định và thừa nhận quốc gia nào là xuất xứ của hàng hóa là điều không hề dễ dàng. Do vậy, các Hiệp định thương mại luôn ghi nhận những quy tắc cụ thể để có thể xác định chính xác xuất xứ của hàng hóa và qua đó dành ưu đãi cho đúng đối tượng. Quy tắc xuất xứ ưu đãi (Quy tắc chung và Quy tắc cụ thể mặt hàng) là tập hợp các tiêu chí được xây dựng nhằm xác định hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA, bao gồm: Xuất xứ thuần túy, được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có xuất xứ (PE), chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC), hàm lượng Trị giá Khu vực (RVC), công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP) hoặc sự kết hợp của bất kỳ các tiêu chí nào trong số các tiêu chí kể trên.

 

2. Cơ cấu của quy tắc xuất xứ trong EFTA

Các quy tắc riêng về xuất xứ trong EFTA có thể được dùng để minh họa các quy tắc xuất xứ trong bất kỳ khu vực thương mại tự do nào. Các quy tắc này nằm trong Nghị định thư B gồm bốn phụ chương của Công ước Stockholm (Công ước EFTA) với tên tiêu đề là “Nghị định thư B về định nghĩa khái niệm “các sản phẩm có xuất xứ” và các phương pháp hợp tác hành chính”. Các phụ lục này thứ tự bao gồm lời giới thiệu, “danh mục gia công”, giấy chứng nhận di chuyển EUR. 1 và tờ khai của nhà xuất khẩu. Từ khi được áp dụng năm 1960, phụ lục B của Công ước EFTA đã được rà soát chỉnh sửa thường xuyên, có tính tới sự tiến bộ trong hội nhập kinh tế tại Âu châu, như các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa từng nước thành viên EFTA với Cộng đồng châu Âu (EC) vào năm 1972, Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA) (năm 1994), và các điều khoản về tính lũy tích theo đường chếo với các nước Trung và Động Âu (CEECs) (năm 1996).

 

2.1. Tiêu chí xuất xứ

Một sản phẩm có thể đạt được tình trạng xuất xứ như là sản phẩm “trọn vẹn” hoặc chủ thể của việc “sản xuất hay gia công đủ mức”.

Tiêu chí “trọn vẹn’’ (Điều 5 của Nghị định thư B) được áp dụng đối với một số nguyên liệu thô như các khoáng sản được khai thác từ lòng đất của một nhà nước thành viên, các sản phẩm rau thu hoạch trong nước, và các sản phẩm có được bằng cách tiến hành săn bắn hay đánh bắt cá tại một Nhà nước Thành viên. Tiêu chí “trọn vẹn” chỉ có thể được áp dụng với một số lượng hạn chế các sản phẩm và không có ý nghĩa đối với EFTA trong toàn bộ nền thương mại nói chung.

Tiêu chí “sản xuất hay gia công đủ mức” (Điều 6) được thực hiện khi các điều kiện nêu trong danh mục ở Phụ lục II được thỏa mãn. Chỉ có một số ít hoạt động được mô tả cụ thể trong Điều 7 như phân loại, đóng gói và lắp rảp đơn giản linh kiện của các mặt hàng không được xem là một quá trình sản xuất hay gia công đủ mức.

Danh sách trong Phụ lục II bao gồm tất cả các loại sản phẩm và dựa trên cơ sở Hệ thống Mã hóa và Mô tả Hàng hóa Hài hòa (Hệ thống Hài hòa hay HS) đã được nhất trí trên phạm vi quốc tế . Danh sách này được chia thành 4 cột như sau: “Mã HS số.” (cột số 1), “Mô tả sản phẩm” (cột số 2), và “Sản xuất hoặc gia công được thực hiện dựa trên các vật liệu không có xuất xứ để quy vào tình trạng xuất xứ” (cột số 3 hoặc số 4). Tiêu chí xuất xứ có thể dẫn đến sự thay đổi mã HS sổơ, các điều kiện cụ thể hoặc các quy tắc về tỉ lệ phần trăm. Trong nhũng trường hợp nhất định, sẽ phối hợp các tiêu chí khác nhau hoặc lựa chọn một trong các tiêu chí thay thế.

Ví dụ sau minh họa sự thay đổi tiêu chí về mã HS:

Đinh sắt HS 73.17 được sản xuất tại Thụy Sỹ từ dây sắt mã HS 72.17 nhập từ Nhật. Không thểm nguyên liệu nào khác. Trong trường hợp này, sự thay đổi đề mục thuế (từ 72.17 sang 73.17) đủ để các sản phẩm đinh sắt này đạt được xuất xứ Thụy Sỹ, không kê tới xuất xứ hay giá trị của dây sắt nhập khẩu.

Ví dụ dưới đây minh họa các điều kiện cụ thể cần phải được thỏa mãn để đạt được thân phận xuất xứ:

VD1: Dầu thô tinh chế mã HS 38.03 có thể được chứng nhận có xuất xứ tại Iceland nếu được tinh chế tại đây từ dầu thô nhập từ Nga, bất chấp thực tế là dầu thô này cũng được phân loại theo mã HS 38.03. Điều đó có nghĩa là công việc tính chế này được xem như là một quá trình chế biến đạt đủ mức.

VD2: Đối với các mặt hàng quần áo (áo jacket, quần âu) thuộc HS chương 62, các nhà sản xuất tại Na Uy có thể sử dụng sợi, chứ không phải vải nhập khẩu từ ấn Độ nếu muốn được có thân phận xuất xứ cho các thành phẩm. May một chiếc jacket từ nguyên liệu vải ngoại nhập không được xem là gia công hoặc sản xuất đủ mức, mặc dù vải được phân loại trong các mã HS khác với mã áo jacket. Lý do để diễn giải quy tắc riêng biệt này là ngànn dệt Na Uy được xem là đang cần có mức độ bảo hộ cao hơn, nghĩa là ít nhất phải có hai hoạt động được tiến hành ở cùng một nước.

Các ví dụ dưới đây có thể minh họa việc sử dụng tiêu chí phần trăm:

VD1: Xích trượt trong các loại xe có động cơ, HS 73.15, có thể đạt thân phận xuất xứ tại Thụy Sỹ nếu được chế tạo tại đó từ phụ tùng được phân loại trong HS 73.15 nhập từ Nhật, với điều kiện là giá trị các phụ tùng của Nhật không vượt quá 50% giả trị thành phẩm xích trượt. Các phụ tùng khác như bu lông, đai ốc và đinh vít có thể được sử dụng không kể tới xuất xứ và giá trị của chúng vì chúng nằm trong các mã HS khác không phải 73.15. Quy tắc này được áp dụng vì các nhà sản xuất xích trượt nhận ra rằng những phụ tùng đó không có trong phạm vi EFTA, EU hay CEEC.

VD2: Các loại động cơ đốt trong, mã HS 84.07 đạt thân phận xuất xứ tại Na Uy nếu được sản xuất tại đó, với điều kiện là giấ trị tất cả các vật liệu được sử dụng và được nhập khẩu từ ngoài khu vực EFTA, EU hay CEEC không vượt quá 40% giá trị các động cơ thành phẩm, không cần biết tới mã HS của các vật liệu được sử dụng. Tình huống này được chấp nhận vì nó không để dọa tới công nghiệp ở bất kỳ nước thành viên nào trong EFTA hoặc các nước châu Âu khác liên quan.

Các ví dụ dưới đây minh họa việc sử dụng các tiêu chí xuất xứ thay thế:

Các loại xe tải công trình, mã HS 87.09, có thể có thân phận xuất xứ từ Thụy Sỹ nếu sản xuất tại đó, miễn là đáp ứng được một trong các điều kiện thay thế sau:

- Giá trị tất cả các vật liệu sử dụng được nhập khẩu từ ngoài khu vực EFTA, EU hoặc CEEC không vượt quá 40% giá trị các thành phẩm xe tải, và trong phạm vi mức giá trị này, giá trị các vật liệu thuộc phân loại HS 87.09 không được vượt quá 5% giá trị các thành phẩm xe tải;

- Giá trị tất cả các vật liệu được sử dụng mà được nhập từ ngoài khu vực EFTA, EU hoặc CEEC không được vượt quá 30% giá trị các thành phẩm xe tải, bất kể các mã HS mà theo đó các vật liệu được phân loại.

Khi có các quy tắc xuất xứ thay thế, thì nhà sản xuất được tự do chọn lựa giải pháp thay thế nào là dễ nhất để thực hiện các quy tắc đó nếu xét từ góc độ quản lý. Trên thực tế, hai giải pháp thay thế này được xem là như nhau.

 

2.2. Bằng chúng về xuất xứ

Để hưởng lợi từ chế độ đối xử ưu đãi theo Công ước EFTA, đi kèm theo một chuyến hàng cần phải có một trong hai loại bằng chúng xuất xứ, được cấp hoặc được lập phù hợp với các điều khoản quy định trong Nghị định thư B, giấy chứng nhận di chuyển EUR.l hoặc tờ khai của nhà xuất khẩu.

Giấy chứng nhận di chuyển EUR. 1 (được nêu lại trong Phụ lục in của Nghị định thư B) là một chúng từ chính thức do nhà xuất khẩu cấp và được cơ quan hải quan của nước xuất khẩu chứng thực (ký và đóng dấu). Để có được Giấy chứng nhận EUR. 1, nhà xuất khẩu cần phải điền bào tờ khai (bản sao giấy than Giấy chứng nhận).

Minh họa 1.

Tờ khai của nhà xuất khẩu (được sao lại trong Phụ lục IV của Nghị định thư B) do nhà xuất khẩu điền vào có thể được in hay là đóng dấu trên hóa đơn thương mại và chỉ do nhà xuất khẩu ký. Tờ khai này không cần phải có chứng thực của cơ quan hải quan.

Có thể sử dụng một thủ tục đơn giản đế hoàn tất tờ khai của nhà xuất khẩu. Chỉ do cơ quan hải quan ở nước xuất khẩu cho phép, thủ tục này nhằm tạo thuận lợi cho công tác hành chính của cả cơ quan hải quan và của các nhà xuất khẩu. Nhà xuất khẩu còn có thể được phép không ký vào Tờ khai của nhà xuất khẩu, mà việc này nếu không là bắt buộc.

 

2.3. Gia công ở bên ngoài

Nếu một nhà sản xuất gửi các bán thành phẩm ra nước ngoài để tiếp tục gia công, thì khi nhập khẩu lại thành phẩm người đó thường chỉ nộp thuế nhập khẩu chỉ dựa trên giá trị gia tăng có được nhờ gia công ở nước ngoài. Thủ tục này nhìn chung được xem như là gia công ở bên ngoài. Nhiều công ty trong khói EU đã sử dụng thủ tục này để sản xuất, ví dụ như, quần áo ở Trung và Đông Âu. Song do Phương pháp tính lũy tích xuất xứ toàn châu Âu (xem dưới đây) được áp dụng, nhu cầu tiến hành gia công ở bên ngoài tại các nước ở Đông và Trung Âu đã giảm đi.

 

2.4. Tính gộp của xuất xứ

Khi một sản phẩm được sản xuất ở các nhà máy khác nhau tại nước xuất khẩu hay các nước thành viên khác trong phạm vi một khu vục thương mại tự do, thân phận xuất xứ của các vật liệu, các linh kiện hay các quy trình sản xuất được sử dụng ttong các giai đoạn khác nhau có thể được tính đến khi xem xét xuất xứ thành phẩm đó. Khả năng này thường được xem như là việc tính gộp xuất xứ.

Ví dụ, vải được dệt tại Thụy Sỹ bằng sợi của ấn Độ không có vị thế xuất xứ khi xuất khẩu tới một Nhà nước Thành viên khác trong EFTA vì bất kỳ một vật liệu không có xuất xứ nào đểm sử dụng đều không được xử lý tiếp tục ngoài giai đoạn ở dạng sợi tự nhiên. Vì vậy, sợi của Ấn Độ không được chấp nhận như là nguyên liệu khởi đầu.

Tuy nhiên, bằng cách áp dụng các quy tắc tính lũy tích, một hãng sản xuất quần áo tại Thụy Sỹ có thể sản xuất quần áo bằng việc sử dụng nguyên liệu vải dệt tại Thụy Sỹ bằng sợi của ấn Độ và có thân phận xuất xứ cho quần áo sau đó được xuất tới nước thành viên EFTA khác, tới EU hay tới bất kỳ nước thành viên nào thuộc CEEC. về thực tiễn, điều đó có nghĩa là các nhà sản xuất quần áo có quyền xem như mình đã sử dụng xơ sợi như là nguyên liệu khởi đầu và điều này là được phép đối với các mặt hàng quần áo (HS Chương 62). Hay nói cách khác, có sự tính lũy tích đầy đủ trong phạm vi nuớc Thụy Sỹ nếu có bằng chứng cho thấy vải được thực sự thực hiện tại đó. Việc tính tích lũy cũng là trọn vẹn trong phạm vi EEA, bao gồm EU và ba Nhà nước Thành viên EFTA (Iceland, Liechtếnstếin và Na Uy) và trong bối cảnh này được xem là “một nuớc”.

Ví dụ, một chiếc áo jacket được cấp vị thế xuất xứ tại Na Uy nếu được gia công từ vải dệt từ sợi ấn Độ tại Iceland.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)