1. Các quốc gia trong Liên minh Châu Âu

Các nước thành viên của Liên minh châu Âu là danh sách gồm 27 nước có chủ quyền đã gia nhập Liên minh châu Âu (viết tắt là EU) từ khi Liên minh này bắt đầu trên thực tế từ năm 1951 dưới tên Cộng đồng Than Thép châu Âu (viết tắt là ECSC).

Từ 6 nước bên trong ban đầu, đã có 6 lần mở rộng liên tiếp, trong đó đợt mở rộng lớn nhất diễn ra ngày 01 tháng 05 năm 2004, khi có 10 nước được gia nhập. Hiện nay Liên minh châu Âu gồm có 21 nước cộng hòa, 5 vương quốc và 1 đại công quốc. Croatia là hội viên mới nhất, gia nhập vào ngày 01 tháng 07 năm 2013. Các cuộc thương thuyết cũng đang diễn ra với một số nước khác.

Tiến trình mở rộng đôi khi được nói tới như việc hội nhập châu Âu. Tuy nhiên từ này cũng được dùng để nói đến việc tăng cường hợp tác giữa các nước hội viên Liên minh châu Âu như các chính phủ quốc gia cho phép việc hài hòa hóa từng bước các luật quốc gia.

Trước khi được phép gia nhập Liên minh châu Âu, một nước phải hoàn tất các điều kiện chính trị và kinh tế, thường được gọi là tiêu chuẩn Copenhagen. Các yêu cầu cơ bản này mà một nước ứng viên phải có là một chế độ dân chủ thế tục, cùng với các quyền tự do và thể chế tương ứng, cũng như tôn trọng luật pháp. Trong điều kiện của Hiệp ước Maastricht, việc mở rộng Liên minh phụ thuộc vào sự đồng ý của mỗi quốc gia hội viên cũng như được Nghị viện châu Âu chấp thuận.

Dưới đây là danh sách các thành viên trong liên minh Châu Âu:

Áo Bỉ Bulgaria Croatia Cộng hòa Síp Cộng hòa Séc
Đan Mạch Estonia Phần Lan Pháp Đức Hy Lạp
Hungary Ireland Ý Latvia Litva Luxembourg
Malta Hà Lan Bồ Đào Nha Romania Slovakia Slovenia
Tây Ban Nha Thụy Điển Vương quốc Anh      

EU là một thực thể kinh tế, chính trị đặc thù với mức độ liên kết sâu sắc. Về cơ bản, EU có các định chế chính là: Hội đồng châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng, Nghị viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu và Toà án châu Âu.

So sánh với nhiều thiết chế kinh tế quốc tế toàn cầu cũng như khu vực, có thể nói Liên minh châu Âu hiện là tổ chức quốc tế có hoạt động hợp tác kinh tế toàn diện và hiệu quả nhất. Nếu như cấp độ hợp tác kinh tế quốc tế của ASEAN mới đang ở mức khu vực mậu dịch tự do thì Liên minh châu Âu đã đạt tới mức độ cao nhất đó là liên minh kinh tế - tiền tệ. Về thương mại, EU hướng tới việc xóa bỏ các hạn chế trong thương mại, hạ thấp rào cản thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế. Đối với thị trường nội địa, EU thực hiện việc tự do hóa lưu thông lao động, vốn, hàng hóa và dịch vụ tạo lập thị trường chứng khoán và thị trường tài chính được hội nhập hoàn toàn.

 

2. Khu vực kinh tế Châu Âu - European Economic Area

>> Xem thêm:  Liên minh Châu Âu (EU) là gì ? Tìm hiểu về tổ chức Liên minh Châu Âu (EU)

2.1. Khái quát về khu vục kinh tế Châu Âu

Khu vực kinh tế Châu Âu (EEA ) được thành lập ngày 1.1.1994 tiếp theo một thỏa ước giữa các nước hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association, EFTA), Cộng đồng châu Âu (EC), và mọi nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU). Nó cho phép các nước hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu tham gia vào thị trường chung châu Âu mà không gia nhập Liên minh châu Âu.

EEA liên kết các quốc gia thành viên EU và ba quốc gia EFTA (Iceland, Liechtenstein và Na Uy) thành một nội bộ trường thị được điều chỉnh bởi các cơ bản quy tắc giống nhau. Vương quốc Anh được hưởng lợi từ mối quan hệ này trong giai đoạn chuyển đổi / thực hiện theo kế hoạch của các hiệp ước. Những quy tắc này nhằm mục đích cho phép sự chuyển đổi của người dùng , hàng hóa, dịch vụ và vốn trong Thị trường chung Châu Âu , bao gồm các quyền tự chọn. Nơi cư trú ở bất kỳ quốc gia nào trong khu vực này. EEA được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1994 khi hiệp định EEA có hiệu lực. Các ký kết bên là EU, các quốc gia thành viên và Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Vương quốc Anh.

 

2.2 Hiệp định về khu vực kinh tế Châu Âu (EEA)

Sau khi đàm phân mở rộng và tích cực, Hiệp định về Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) cuối cùng được ký kết tại Porto ngày 2.5.1992. Sau một thời gian chậm trễ trong quá trình phê chuẩn, do Thuy sĩ từ chối tham gia hiệp định này trong một cuộc trưng cầu dân ý tháng 12.1992, Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01.01.1994. Bao gồm 15 Nhà nước Thành viên của EU và 3 của EFTA (Iceland,Liechtenstein và Na Uy), EEA ngày nay tạo nên một thị trường thống nhất với dân số 370 triệu người và là một khu vực kinh tế hội nhập sâu rộng nhất thế giới

EEA có hệ thống luật pháp và thể chế riêng dựa trên quan điểm hai trụ cột chính: EU và EFTA, mỗi trụ cột vẫn duy trì quyết định tự trị của mình, về nội dung, EEA bao hàm việc chuyển dịch tự do của hàng hoá, dịch vụ, vốn và nhân lực (4 quyền tự do), ngoài 4 quyền tự do trên còn có nghiên cứu và phát triển (R&D), dịch vụ thông tin, du lịch. Các biện pháp liên quan ngang và các chính sách hỗ trợ (kể cả nghiên cứu và phát triển, giáo dục, chính sách người tiêu dùng, chính sách môi trường và xã hội). Mặc dù vượt ra ngoài một hiệp định thương mại truyền thống nhưng EEA không phải là một liên minh thuế quan và các Bên Ký kết vẫn duy trì chính sách thương maị riêng EEA cũng không bao gồm chính sách nông nghiệp hay chính sách thuỷ sản chung, hoặc các điều khoản về việc làm hài hoà thuế.

Theo EEA, các Nhà nước EFTA/EEA đã kế tục pháp luật hiện hành của EC, được gọi là “Cộng đồng đã có” trong các lĩnh vực của hiệp định. Trong lĩnh vực hàng hoá, phần lớn văn bản pháp lý bao gồm các quy định kỹ thuật đã làm hài hoà rộng rãi trong EEA. Việc mọi thành viên chấp nhận rằng các sản phẩm đã được kiểm nghiệm và phê chuẩn tại một Nhà nước Thành viên khác theo luật lệ của nước họ (nguyên tắc Cassis-de-Dijon) thì cũng được thiết kế mà không vướng những rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

Thương mại hàng hoá cũng được thuận lợi hơn thông qua các quy tắc xuất xứ giản lược và việc giảm bớt các thủ tục biên giới. Tự do hoá thương mại trong lĩnh vực nông sản và thuỷ sản đang được thực hiện trên cơ sở song phương, nhưng EEA bổ sung thểm một số quy tắc nữa. Những quy tắc về mua sắm công vốn không thành một bộ phận của hiệp định thương mại tự do giữa các nước thành viên riêng biệt của EFTA và EEC cũng được nêu ra, các nước EFTA/EEA đã kế tục các quy tắc và thủ tục EU về cạnh tranh và viện trợ Nhà nước.

Các thể chế của EEA bao gồm một uỷ ban chung, có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hiệp định một cách cụ thể, và một Hội đồng là cơ quan chính trị cao nhất. Hội đồng EEA đánh giá toàn bộ chức năng hoạt động của hiệp định và đặt ra đường lối phát triển. Hội đồng cũng là diễn đàn đối thoại chính trị về chính sách đối ngoại giữa các nước EEA.

>> Xem thêm:  Liên minh Châu Âu và Cơ cấu tổ chức của Liên minh Châu Âu

Nhằm giám sát việc áp dụng các quy tắc EEA đối với phía EFTA, một tổ chức mới là Cơ quan giảm sát EFTA (ESA) được thành lập tại Bruxell, với chức năng và quyền hạn tương tự như uỷ ban EC thực hiện việc giám sát các Nhà nước Thành viên. Một tổ chức mới nữa là Toà ấn EFTA (tại Luxembourg) được thành lập để bảo đảm việc kiểm tra về pháp lý các chức năng hoạt động thích ứng của hiệp định tại các Nhà nước EEA/EFTA, giống như Toà án Tư pháp châu Âu thuộc Cộng đồng.

Hiệp định EEA đề ra cho các Nhà nước tham gia EFTA một khuôn khổ thể chế để tham hình thành pháp luật của EU, bằng cách đó cho phép các nước tham gia vào thị trường nội địa EU cũng như vào một số các hoạt động liên quan khác, ví dụ giáo dục, nghiên cứu và phát triển, chính sách xã hội.

Thuy Sĩ tham gia các cuộc đàm phán song phương với EU với mục đích nâng cấp hiệp định mậu dịch tự do hiện nay và cho phép họ tham gia càng nhiều hơn nữa vào thị trường nội địa mà không phải trở thành bộ phận của các thoả thuận về thể chế điều hành EEA. Các cuộc đàm phán kết thúc trong năm 1999 bằng việc ký kết 7 hiệp định theo các lĩnh vực.

Tiếp theo việc kết thúc các cuộc đàm phán về EEA trong năm 1992, bốn nước EFTA gồm áo, Phần Lan, Thuy Điển và Na Uy đã bày tỏ quyết tâm chính trị đối với việc tham gia đầy đủ vào EU theo các điều kiện kinh tế và chính trị. Các cuộc đàm phán để gia nhập tổ chức này có thuận lợi bởi thực tế là Hiệp định EEA đã đáp ứng đa số các yêu cầu về hài hoà hoá pháp luật cần thiết. Trong cuộc hợp của Hội đồng châu Âu năm 1994, Áo, Phần Lan, Na Uy và Thuy Điển ký Điều ước gia nhập EU, và chỉ sau 18 tháng đàm phán, Áo, Phần Lan và Thuy Điển đã trở thành thành viên của EU vào ngày 1.1.1995, trong khi đó, Na Uy từ chối làm thành viên trong một cuộc trưng cầu ý dân cuối năm 1994

 

3. Quan hệ giữa EFTA và nước thứ ba.

Sự khởi đầu thực sự của việc phát triển tích cực mối quan hệ với nước thứ ba của các quốc gia EFTA được khởi động bởi những thay đổi chính trị lớn ở Đông Âu trong năm 1989, khi EC bắt đầu các cuộc đàm phán đầu tiên về cái gọi là các Hiệp định châu Âu với các quốc gia Trung và Đông Âu (CEECs). Những hiệp định này báo trước thương mại tự do tất yếu trong công nghiệp giữa EC và những nước đó có thể dẫn đến một tình huống các nhà điều hành kinh tế tại các nước EFTA đối mặt với sự phân biệt kinh tế trong thị trường so với các nhà cạnh tranh EC. Về phần này cần phải ghi nhận rằng từ những năm đầu của thập kỷ 70, Phần Lan đã có các hiệp định thương mại tự do không chỉ với Liên Xô mà còn cả với các nước XHCN Đông Âu khác. Vào tháng 6 năm 1990, các nước EFTA hợp tại Gothếnburg quyết định bắt đầu xây dựng một mạng lưới các hiệp định mậu dịch tự do song song của riêng của họ để đối lại sự “phân biệt đối xử” tiềm năng này. Nhưng quá trình đó không bị quyền lợi ích kỷ riêng dẫn dắt; các Nhà nước EFTA, giống như EC, cũng mong muốn được góp phần xây dựng lại các nước XHCN trước đây bằng cách khuyến khích các nguyên tắc kinh tế thị trường và, theo nghĩa rộng, đem lại sự phồn vinh kinh tế để củng có sự ổn định và tăng cường dân chủ. Trong những năm đầu 90, các Nhà nước EFTA đã ký các hiệp định thương mại tự do với các nước Trung và Đông Âu, và bắt đầu một chương trình •trợ giúp kỹ thuật. Ngoài ra, các nước EFTA còn cung cấp các trợ giúp tài chính song phương cho các nước đối tác này.

Song song với quá trình phát triển này, nhưng chủ yếu để phản ứng đối với việc phân biệt đối xử mà các nhà điều hành kinh té EFTA phải đối mặt trực tiếp với các nhà cạnh tranh từ các nước EC hay từ Mỹ, các Nhà nước EFTA cũng đàm phân với Israel và Thổ Nhĩ Kỳ để thành lập một khu vực thương mại tự do. Hiệp định với Thổ Nhĩ Kỳ được ký vào năm 1991 và với Israel năm 1992.

Việc ra đi của Áo, Phần Lan, và Thuy Điển vào cuối năm 1994 không làm suy yếu mà có thể củng có quyết tâm của các nước EFTA trên con đường của họ. Mười hai năm sau cuộc họp đầu tiên tại Bergen, các Bộ trưởng EFTA lại gặp nhau tại Bergen vào tháng 6.1995 để tuyên bố ý định tiếp tục theo đuôi và tăng cường những nỗ lực trong các quan hệ với nước thứ ba trong và ngoài châu Âu. Như một biểu hiện của chính sách hướng ra bên ngoài, 4 nước EFTA vẫn duy trì các hiệp định thương mại tự do với Estonia, Latvia, Lithuania và Slovenia vào năm 1995 và gần đây với

Maroccof và Tổ chức Giải phóng Palestin (PLO) thay mặt cho chính quyền Palestin.

>> Xem thêm:  Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (EUROPEAN CENTRAL BANK - ECB) là gì ?

Ngày nay, các Nhà nước EFTA đã có quan hệ ký kết chung với không ít hơn 20 đối tác. Các hiệp định mậu dịch tự do đầy đủ đã ký với 14 nước: Bulgari, Czech, Estonia, Hungari, Israel, Latvia, Lithuania, Moroccof, Palestin, Ba Lan, Rumani, Slovac, Sloven và Thổ Nhĩ Kỳ. Các tuyên bố về hợp tác, thường là bước đau tiên trên con đường dẫn đến hiệp định mậu dịch tự do, đã ký với 6 nước : Albani, Egypt, Jordan, Lebanon, Macedonia và Tunisia.

Việc mở rộng mạng lưới các hiệp định đối với các nước Địa Trung Hải là một hiển thị rõ ràng rằng, EFTA chia sẻ tinh thần của quá trình được khởi đầu vào năm 1995 tại Hội nghị Barcelona (xem Hộp 6) mà một ý muốn chính trị theo một vài cách có thể so sánh với các vấn đề của 5 năm trước đó, đưa đến việc ký kết các hiệp định với các nước cộng sản trước đây. Thểm vào các hiệp định ký với Israel, Maroccố, PLO và Thổ Nhĩ Kỳ, các cuộc đàm phán về tự do thương mại cũng đang được tiến hành với Sypus, Egypt, Jor­dan, Tunisia. Các cuộc thảo luận có tính chất thăm dò với Malta cũng đang được thực hiện.

- Vấn đề tích lũy ở Châu Âu cũng thể hiện mối quan hệ giữa EFTA và nước thứ ba:

Mạng lưới các hiệp định song song của EFTA và EC tạo ra những vấn đề kỹ thuật của sự tương thích. Ví dụ một sản phẩm được tạo ra bởi những chi tiết được sản xuất tại Hungari và Thuy Sĩ sẽ không được tính miễn thuế khi đưa vào EC mặc dù cả Hungari và Thuy Sĩ, nói riêng, đều được hưởng quy chế thương mại tự do với EC. Việc loại trừ vấn đề này đã được ưu tiên hàng đầu đối với các Nhà nước EFTA trong nhiều năm và, từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, sự kiên trì của họ đã được đền bù khi các quy tắc xuất xứ Liên Âu (pan-European) bắt đầu đưa vào thực hiện. Đó là điều quan trọng đặc biệt đối với các ngành công nghiệp như dệt may, và cũng còn nhiều nghi ngại rằng liệu có bất kỳ nước EFTA riêng biệt nào đó có thể giành được kết quả tốt đẹp cho riêng mình hay không. Những thành công thuộc loại này nhấn mạnh sự hữu ích tiếp theo của một tổ chức như EFTA đối với các thành viên của mình và như một cầu thủ chủ chốt trong sân chơi hội nhập kinh tế châu Âu.

Khi các Nhà nước EFTA đầu tiên có ý đồ hướng ra ngoài biên giới trực tiếp của châu Âu, họ nhấn mạnh tầm quan trọng tối thượng của châu Âu trong việc tạo lập các mối liên kết mạnh mẽ với các đối tác thương mại bên ngoài đại lục này. Các hiệp định ưu đãi với các đối tác ngoài châu Âu sẽ ngày càng quan trọng trong sự phát triển quâ trình toàn cầu hoá.

EFTA coi họ như là một sự bổ sung đối với hệ thống thương mại đa phương và là những khối tạo nên tự do hoá thương mại toàn cầu. Từ khi mở các cuộc đàm phán với Canada nhằm mục đích tạo ra khu vực thương mại tự do đầu tiên xuyên Đại Tây Dương, các nước EFTA đã thể hiện rằng họ cũng đang cân nhắc để đàm phán với các nước khác, như Mexicố, Chile và Nam Phi.

Các nước EFTA đã thiết lập các mối giao tiếp không chỉ với các nước đối tác riêng biệt mà còn với các nhóm nước có tính chất khu vực như GCC, MERCOSUR, ASEAN và đang đề xuất ký kết các thoả thuận hợp tác chặt chẽ hơn nữa vơi GCC và MERCOSUR.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)