Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:

Quy định về hợp đồng cho vay hợp vốn đã kế thừa những ưu việt trong các quy định trước đây. Tuy vậy, các Tổ chức tín dụng gồm nhiều chủ thể có năng lực, địa vị không đồng đều, mối quan hệ pháp lý giữa các bên cho vay trong thực tiễn minh chứng cho thấy vẫn còn rời rạc, thiếu một cơ chế pháp lý chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi cho các thành viên (tổ chức tín dụng).

 

1. Sửa đổi, bổ sung cơ chế trách nhiệm của bên cho vay trong cấp tín dụng với khách hàng

Pháp luật quy định các tổ chức tín dụng là một bên chủ thể bắt buộc của quan hệ cấp tín dụng hợp vốn. Quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với doanh nghiệp đi vay dựa trên hợp đồng này, không phụ thuộc vào hợp đồng hợp vốn được giao kết thực hiện giữa các tổ chức tín dụng. Tuy vậy, việc xác định một cơ chế kiểm soát, trách nhiệm giữa một bên là các tổ chức tín dụng không được ghi nhận, trách nhiệm của bên cho vay hợp vốn đến đâu đối với khách hàng vay cũng không được quy định rõ ràng. Mặc dù trên lý thuyết, các bên có thể thỏa thuận ghi trong hợp đồng điều khoản về mối quan hệ này, nhưng với những đặc thù đã nêu về yêu cầu một cơ chế pháp lý bình đẳng, nâng cao hơn nữa quyền hạn, trách nhiệm của các thành viên hợp vốn, pháp luật cần có những quy định cụ thể trong trường hợp các bên không có thỏa thuận nhằm cân bằng quyền lợi hợp đồng, giúp hợp đồng vay dạng này được an toàn, hiệu quả cao hơn.

Thứ nhất, về trách nhiệm pháp lý, hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn đối với khách hàng không phụ thuộc vào hợp đồng hợp vốn được các tổ chức tín dụng thỏa thuận sẽ làm tăng nguy cơ rủi ro. Đặc biệt là đối với các tổ chức tín dụng đầu mối vốn dĩ được pháp luật quy định phải có uy tín, tiềm lực tài chính tốt, trực tiếp tham gia thực hiện hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn. Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì hai hợp đồng này mang tính độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau vì các nội dung thỏa thuận hợp vốn không ràng buộc với bên vay. Do đó, với vai trò làm đầu mối, là người ký hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn đối với khách hàng, tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm khi có rủi ro xảy ra hoặc ngược lại.

Thứ hai, khi một bên hợp đồng là chủ thể gồm nhiều pháp nhân, vai trò và trách nhiệm với bên vay như thế nào, nếu không được thể hiện rõ sẽ không bảo đảm các nguyên tắc chung của quan hệ hợp đồng cho vay như đã đề ra. Pháp luật ghi nhận tổ chức tín dụng đầu mối được hưởng lợi ích từ phí tín dụng, các khoản lợi ích tương ứng với tỷ lệ góp vốn tín dụng. Đồng nghĩa các trách nhiệm từ những tổ chức tín dụng này cũng phải tương ứng. Xác định, làm rõ mối quan hệ pháp lý của hai dạng hợp đồng theo định hương nêu trên sẽ làm ràng buộc trách nhiệm của các bên, bảo đảm lợi ích chính đáng của từng thành viên tham gia cấp tín dụng.

 

2. Sửa đổi, bổ sung cơ chế'đồng thuận giữa các bên cho vay khi tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng hợp vốn

Nguyên tắc cùng thẩm định, cùng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cùng chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động cấp tín dụng (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 42/2011/TT-NHNN), đã thể hiện rõ nét bản chất của dạng hợp đồng đặc thù này. Theo đó, các tổ chức tín dụng có thể kết hợp, cùng tham gia cho vay những khoản vay lớn một cách bình đẳng, cùng có lợi, cùng chia sẻ rủi ro. Song, cơ chế đồng thuận thẩm định, quyết định cho vay, chịu trách nhiệm như thế nào gần như bỏ ngỏ, không được pháp luật đề cập. Duy nhất chỉ có quy định thống nhất hình thức thẩm định đối với dự án cấp tín dụng hợp vốn dưới hình thức tham gia trực tiếp, qua ủy quyền hoặc thuê thẩm định độc lập của bên thứ ba (khoản 1 Điều 10 Thông tư số 42/2011/TT-NHNN), thể hiện phần nào tính đồng thuận này. Nếu dựa trên luận điểm về tự thỏa thuận trong hợp đồng, quy định vẫn còn bó hẹp, sẽ không giải quyết thấu đáo về một cơ chế đồng thuận khi cấp tín dụng giữa các tổ chức tín dụng cũng như đối với khách hàng vay.

Thêm vào đó, các quy định về cấp tín dụng hợp vốn như hiện nay chỉ mang ý nghĩa tương đối, chưa phát huy năng lực của các chủ thể (thành viên cấp tín dụng) khi phát hiện sai phạm để xử lý theo đúng quy định và nội dung đã thỏa thuận trong từng hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn đối với khách hàng. Ngay cả quy định về giải quyết bất đồng giữa các tổ chức tín dụng được pháp luật đặt ra, cũng chưa có cơ chế thực hiện cụ thể. Nếu chỉ thuần túy dựa vào tỷ lệ tín dụng được cấp để quyết định trách nhiệm vật chất và xử lý bất đồng theo như cách làm thường thấy trong hoạt động góp vốn của doanh nghiệp, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những bất cập, được nhận diện như sau:

Thứ nhất, trong giao dịch cho vay, lợi ích của tổ chức tín dụng gắn liền với trách nhiệm bảo toàn tiền vay. Quyền lợi của các tổ chức tín dụng khi tham gia quan hệ pháp luật cho vay hợp vốn không dành riêng cho tổ chức tín dụng nào. Điều cần thiết hiện nay là phải cân bằng quyền lợi của các bên tham gia hợp vốn. Trong đó, các đề xuất, kiến nghị của tổ chức tín dụng tham gia hợp vốn với chức năng giám sát và quyền yêu cầu sử dụng các công cụ thẩm định, giám sát nếu có sai phạm (không phân biệt tỷ lệ cấp tín dụng) phải được pháp luật quan tâm củng cố và bảo đảm thực hiện.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng tham gia quan hệ hợp đồng cho vay hợp vốn tuy không thành lập pháp nhân mới, nhưng nguyên tắc trên đã đặt ra áp lực cho các nhà làm luật, phải xây dựng cơ chế đồng thuận tối ưu nhất nhằm giải quyết các mục tiêu đã nêu. Với quy định hiện hành cho phép thành viên đầu mối dàn xếp cấp tín dụng hợp vốn là minh chứng cho thấy sự tập trung quá nhiều quyền vào thành viên đầu mối, thiếu cơ chế đồng nhất. Các bên tham gia quan hệ hợp đồng này hoàn toàn có thể tự thỏa thuận, dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng. Song do năng lực, địa vị của bên cho vay khác nhau, cũng như xuất phát từ tính chất phức tạp của quan hệ cho vay hợp vốn, không phải bất kỳ tổ chức tín dụng nào cũng có thể nhìn nhận, đánh giá, dự liệu mọi diễn biến có thể xảy ra một cách đầy đủ, ghi vào trong hợp đồng hợp vốn để ràng buộc trách nhiệm sau này.

Từ những phân tích về mối quan hệ pháp lý còn rời rạc giữa hợp đồng hợp vốn và hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn, cũng như minh chứng vẫn còn thiếu một cơ chế đồng thuận để bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể ngân hàng, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định như dưới đây:

Một là, luật hóa mối quan hệ giữa hợp đồng hợp vốn (được ký kết giữa các tổ chức tín dụng) với hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn đối với khách hàng. Theo đó, quy định nội dung hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn phải thể hiện trách nhiệm của bên cho vay hợp vốn, bao gồm cả cơ chế pháp lý giải quyết những bất đồng phát sinh. Trong đó, công tác kiểm tra giám sát cho vay phải làm rõ cơ chế giải quyết xung đột giữa các thành viên tham gia cho vay hợp vốn.

Hai là, bổ sung quy định bảo đảm quyền tham gia kiểm soát tín dụng của bên cho vay hợp vốn. Theo đó, các thành viên được trao quyền đưa ra yêu cầu, kiến nghị khi phát hiện rủi ro, nguy cơ mất an toàn vay. Nguyên tắc đồng thuận theo quy định hiện nay chỉ mới dừng lại ở vai trò của ngân hàng đầu mối, vẫn chưa thể hiện vai trò, trách nhiệm của các thành viên tham gia cấp tín dụng hợp vốn. Điều này sẽ tạo rủi ro cho các tổ chức tín dụng làm đầu mối, cũng như thiếu một cơ chế giám sát liên tục, đa chiều có hiệu quả.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.