1. Mức xử phạt khi có con riêng khi chưa ly hôn?

Thưa luật sư, Tôi kết hôn từ năm 2011 đến nay đã được 2 cháu trai, tôi thường xuyên bị chồng bạo hành về thể xác và tinh thần, vì chán nản tôi đã có tình cảm và trót có con với một người đàn ông khác đã có gia đình, tôi đã dối chồng và không nỡ giết bỏ đứa bé vô tội nên tôi đã để sinh con, sinh ra con thứ 2 của tôi không giống thằng đầu và không có nét nào của chồng tôi nên a ta sinh nghi ngờ.
Anh ta gây sự với tôi, tôi sợ mọi chuyện vỡ lở nên đã mượn dịp xô sát vợ chồng để lấy ly do ly hôn, nhưng chưa kịp ly hôn thì anh ta sinh nghi và bí mật xét nghiệm ADN của con riêng của tôi. Vậy, nếu mọi chuyện bại lộ chồng tôi kiện tôi thì tôi bị xử phạt theo pháp luật ra sao ạ ?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về con riêng, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn cần xác định việc có quan hệ ngoại tình với người khác không chỉ ảnh hưởng đến tình nghĩa vợ chồng mà còn là hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật Việt Nam với việc bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, không chỉ có Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh vấn đề này, mà Luật hình sự cũng có điều chỉnh về hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân, tùy vào mức độ của hành vi, sự việc mà các quy phạm được áp dụng cũng khác nhau.

Như thông tin bạn trình bày thì việc bạn lừa dối chồng, nảy sinh tình cảm và trót có con với người khác khi chính bản thân mình đang có gia đình là hành vi phạm chế độ một vợ một chồng, vi phạm quy định pháp luật hôn nhân gia đình 2014, cụ thể:

"Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

... c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; ..."

Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định về vi phạm hành chính về Tư pháp, hôn nhân gia đình quy định về hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn sẽ bị xử lý như sau:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

... b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;..."

Ngoài ra, theo quy định tại Mục 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT- BTP – BCA – TANDTC – VKSNDTC. hành vi của bạn còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi:

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...

b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.


Và tại Điều 182 Bộ Luật hình sự 2015 nêu rõ hình phạt đối với tội này như sau:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Những bằng chứng để chứng minh hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của bạn có thể là: đứa con chung của bạn với người đàn ông không phải chồng bạn, được hàng xóm hoặc những người xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung, đã được gia đình, cơ quan đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục mối quan hệ đó…

Như vây , trường hợp của bạn tùy vào mức độ để có thể xem xét áp dụng hướng xử lý phù hợp.Tốt nhất bạn nên nói sự thật cho chồng biết và xin sự tha thứ từ chồng.

>> Xem thêm:  Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định mới 2021

2. Tư vấn thủ tục ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi lấy chồng đã được 10 năm (năm 2005) và trong thời gian chung sống chúng tôi đã có 2 đứa con. Tuy nhiên vợ chồng tôi lại hay xảy ra đánh nhau. Đến bây giờ tôi không thể sống chung với chồng tôi được nữa.
Vì vậy tôi muốn làm thủ tục ly hôn, nhưng vợ chồng tôi chưa đăng ký kết hôn thì khi gửi đơn tòa án có giải quyết không ạ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.S.T

Tư vấn thủ tục ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, việc bạn và chồng bạn chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì sẽ không phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai người. Hiện tại bạn muốn ly hôn thì bạn có thể làm đơn yêu cầu ly hôn. Khi đó, tòa án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng.

Bạn và chồng chung sống như vợ chồng từ năm 2005, nên theo Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ:

“Về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký muốn chia tay như sau: đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.

Bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Giấy chứng nhận quá trình chung sống của hai người

- Chứng minh thư nhân dân của hai bạn (Bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của các con (Bản sao có chứng thực).

- Đơn xin ly hôn.

Về quan hệ tài sản và nghĩa vụ của hai bạn với các con sẽ được giải quyết theo Điều 14, 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

3. Điều kiện để mẹ được nuôi con sau ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi và chồng có một con chung 26 tháng tuổi, tôi muốn hỏi về quyền nuôi dưỡng con ? Theo Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn :
"Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Con tôi nay được 26 tháng tuổi, quyền nuôi con thuộc về người vợ là tôi, xin hỏi người mẹ không đủ điều kiện là xét về mặt kinh tế hay thời gian chăm sóc con? Nếu yêu cầu cấp dưỡng đối với người chồng thì mức tối đa và tối thiểu là bao nhiêu/tháng ?
Cảm ơn!

Điều kiện để mẹ được nuôi con sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Người mẹ không đủ điều kiện để nuôi con là điều kiện xét về mặt kinh tế hay thời gian chăm sóc con?

Để xét người mẹ có đủ điều kiện để nuôi con hay không thì Tòa án căn cứ vào nhiều yếu tố như kinh tế, thời gian chăm sóc con, nhân phẩm, đạo đức, tình cảm đối với con....

Về kinh tế, Tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập bình quân hàng tháng của cha, mẹ; mức ổn định nghề nghiệp để đảm bảo cho con có điều kiện được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất. Về thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc con: Đây là yếu tố quan trọng để đảm bảo người con được yêu thương, chăm sóc chu đáo. Ngoài ra, để xét điều kiện đủ để nuôi con, Tòa án còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau để cân nhắc, xem xét ai có đủ điều kiện nuôi con, để đảm bảo người con được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất.

2. Mức cấp dưỡng mà người chồng phải chu cấp:

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13: "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.".

Như vậy, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng về việc nuôi con, chăm sóc và cấp dưỡng. Cha, mẹ đều có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để nuôi mình. Nếu cha không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa án căn cứ vào điều kiện, khả năng của các bên để quyết định.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

4. Trường hợp nào người vợ được nuôi con sau khi ly hôn?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về người có quyền trực tiếp nuôi con và các vấn đề liên quan:

Trả lời:

Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

5. Quy trình giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên ?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi mong luật sư giải đáp giúp. Bây giờ tôi không thể sống chung với chồng mình được nữa, tôi muốn ly hôn, tuy nhiên mặc dù tôi đã nhiều lần tự viết đơn ly hôn và yêu cầu chồng tôi ký, nhưng anh ta không ký. Nay tôi muốn làm đơn yêu cầu ly hôn tới tòa án.
Vậy tôi phải làm thế nào, tòa sẽ giải quyết vụ việc của tôi như thế nào?
Tôi xin cảm.

Quy trình giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, ly hôn đơn phương là việc ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng qua việc làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương tới Tòa án có thẩm quyền. Tại Điều 56, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Khi yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương, nguyên đơn gửi hồ sơ xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú. Hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu của từng Tòa);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực)

- CMND/hộ chiếu (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực - nếu có);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung.

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo về nộp tiền tạm ứng phí.

Về quy trình giải quyết đơn yêu cầu ly hôn tại tòa án.

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13, tại Điều 54:

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy việc hòa giải ở tòa án là thủ tục bắt buộc nhằm mục đích hàn gắn lại quan hệ vợ chồng trước khi quyết định mở phiên tòa . Theo quy định Bộ Luật tố tụng dân sự, việc hòa giải tại Tòa diễn ra dưới hình thức phiên họp, có sự có mặt của các đương sự ( vợ, chồng, những người có liên quan).

Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau và việc hòa giải đoànt tụ thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp hòa giải không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn. Việc giải quyết ly hôn phải căn cứ vào việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hay không hoặc có vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thời hạn giải quyết ly hôn đơn phương:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: 4 tháng kể từ ngày thụ lý;

Thời hạn mở phiên tòa: 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nghĩa vụ và quyền giáo dục con của cha, mẹ

Trả lời:

- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

- Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

- Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.

Câu hỏi: Quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng

Trả lời:

Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Câu hỏi: Quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con

Trả lời:

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

- Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.