Căn cứ vào khoản 2 Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2019, nghiêm cấm việc sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó.

Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 178), thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã cho phép sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nếu người khuyết tật đồng ý (Bộ luật Lao động năm 2012 tuyệt đôi nghiêm cấm, dù người khuyết tật có đồng ý hay không).

Với quy định nêu trên bảo đảm được quyền lợi của người lao động khuyết tật, nếu không muôh làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì được quyền từ chối; trường hợp muốn có thu nhập tốt hơn thì được phép làm những việc đó.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật trên như sau:

 

1. Quy định của pháp luật về sử dụng người lao động là người khuyết tật.

- Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 thì một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động là phân biệt đối xử trong lao động. Phân biệt đối xử trong lao động được hiểu là các hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên các yếu tố trong đó có yếu tố khuyết tật của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý việc phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không bị xem là phân biệt đối xử.

Như vậy có thể hiểu pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về lao động nói riêng vẫn đảm bảo việc bình đẳng cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp của mọi người lao động không phân biệt kể cả là người lao động khuyết tật.

- Do người lao động là người khuyết tật nên có những mặt hạn chế nhất định so với các lao động thông thường như các quyền lợi và chế độ của những người lao động khuyết tật, cụ thể như sau:

+ Quy định về nghỉ hằng năm thì đối với lao động là người khuyết tật thì số ngày nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương nếu đủ điều kiện thì được hưởng 14 ngày, nhiều hơn 02 ngày so với người làm công việc trong điều kiện bình thường.

+ Đối với việc khám sức khỏe đối với lao động là người khuyết tật thì sẽ được áp dụng khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần so với người lao động bình thường thì mỗi năm sẽ được khám sức khỏe ít nhất một lần.

- Theo quy định tại Điều 158 của Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định về chính sách của Nhà nước đối với lao động là người khuyết tật là Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động là người khuyết tật; có chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp đối với người sử dụng lao động trong tạo việc làm và nhận người lao động là người khuyết tật vào làm việc theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

 

2. Người sử dụng lao động có được sử dụng người lao động làm những công việc nào?

- Người sử dụng lao động sử dụng lao động là người khuyết tật thì phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức khám sức khỏte định kỳ phù hợp với người lao động là người khuyết tật.

- Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ.

- Theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động sử dụng lao động khuyết tật vào lao động thì phải đảm bảo các điều kiện lao động và phải được sự đồng ý của người lao động khuyết tật nếu liên quan đến quyền và lợi ích của họ.

Vậy người sử dụng lao động có được sử dụng lao động là người khuyết tật làm những công việc năng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không?

- Trước hết công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là các công việc khi thực hiện sẽ có các yếu tố gây hại, tổn thương đến sức khỏe, tinh thần hoặc có nguy có cao và được quy định trong danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Hiện nay theo quy định tại Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ngày 12 tháng 11 năm 2020 ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Thông tư này đã quy định 1838 nghề, công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và chia thành các lĩnh vực khác nhau.

- Để xác định người sử dụng lao động có được sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không thì điều kiện trước tiên là các công việc đó có được coi là công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không hay cụ thể hơn là các công việc đó có được quy định trong danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hay không.

- Thứ hai việc người sử dụng lao động sẽ được sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm thì người sử dụng lao động phải đáp ứng được các điều kiện để sử dụng lao động là người khuyết tật theo quy định của Điều 159 của Bộ luật Lao động năm 2019 và không thuộc các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật theo Điều 160 của Bộ luật Lao động năm 2019 trong đó có việc cấm sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó. 

- Như vậy việc người sử dụng lao động có được sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không thì điều kiện tiên quyết là phải được người lao động là người khuyết tật đồng ý. Việc người sử dụng lao động sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó, nếu thông báo đầy đủ thông tin về công việc đó mà người lao động là người khuyết tật vẫn muốn làm việc, đồng ý làm việc thì người sử dụng lao động vẫn có thể sử dụng người lao động là người khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý người lao động khuyết tật có mong muốn hay đồng ý nhưng cũng phải dựa vào điều kiện và hoàn cảnh sức khỏe của người lao động để cân nhắc xem họ có đủ khả năng về sức khỏe để thực hiện được công việc đó không.

- Nếu người sử dụng lao động có vi phạm quy định về sử dụng người khuyết tật thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 31 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có quy định về vấn đề này như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm đối với mỗi người lao động nếu không tham khảo ý kiến của người lao động là người khuyết tật khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ. Cho nên việc người sử dụng lao động sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nếu không tham khảo ý kiến của người lao động (tức chưa có sự đồng ý của người lao động) thì tùy từng mức độ sẽ có thể bị xử lý vi phạm hành chính với hành vi tương ứng.

- Theo khoản 3 Điều 105 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan. Theo đó thời gian làm việc cụ thể sẽ căn cứ vào mỗi ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm để có thể áp dụng cho phù hợp.

- Về quy định nghỉ hằng năm thì đối với người lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặnng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì sẽ được nghỉ 16 ngày hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Lưu ý số ngày nghỉ hằng năm này vẫn tăng thêm theo thâm niên làm việc, tức là cứ làm việc đủ 05 năm cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động sẽ tăng thêm tương ứng 01 ngày. 

- Ngoài ra các chế độ khác về bảo hiểm xã hội như độ tuổi nghỉ hưu, thời gian hưởng chế độ ốm đau - bệnh nghề nghiệp của những người lao động là người khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cũng sẽ được đáp ứng quyền lợi hơn so với các lao động làm việc trong điều kiện bình thường.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng vui lòng liên hệ số Hotline tư vấn pháp luật lao động, gọi ngay: 1900.6162 để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!