Mục lục bài viết
1. Quy định về chôn cất mồ mả tại Việt Nam
Hiện nay, theo quy định tại Điều 63 Luật Bảo vệ môi trường 2020 về việc quy định về bảo vệ môi trường trong mai táng và hỏa táng, chính phủ đã đưa ra những hướng dẫn quan trọng để đảm bảo sự hài hòa giữa nghiên cứu khoa học và đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng, tập quán, tôn giáo của người dân.
Một trong những yêu cầu quan trọng đó là đối với khu mai táng và hỏa táng, chúng phải phù hợp với quy hoạch và có vị trí khoảng cách đáp ứng yêu cầu về cảnh quan khu dân cư. Điều này nhằm đảm bảo rằng các hoạt động mai táng và hỏa táng không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà còn không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh.
Việc quàn, ướp, di chuyển, chôn cất thi thể, hài cốt cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường, giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm. Cá nhân và tổ chức hoạt động dịch vụ mai táng và hỏa táng phải tuân thủ tất cả các quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích việc hỏa táng và mai táng phải thực hiện trong khu nghĩa trang theo quy hoạch. Điều này nhằm loại bỏ những thực tiễn cũ, những hủ tục có dấu hiệu gây ô nhiễm môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững và vệ sinh trong các hoạt động này.
Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm quy định cụ thể về việc mai táng và hỏa táng người chết do dịch bệnh nguy hiểm, đảm bảo an toàn và vệ sinh cho cộng đồng và môi trường. Tất cả những điều này cùng nhau tạo nên một khung pháp luật chặt chẽ để bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng và hỏa táng, đồng thời tôn trọng và duy trì giá trị văn hóa và tôn giáo của xã hội.
2. Có được yêu cầu di dời mồ mả trên đất của mình hay không?
Dựa vào quy định tại Điều 12 của Nghị định 23/2016/NĐ-CP về việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ, chúng ta có thể thấy rằng việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ là cần thiết trong những tình huống sau đây:
Trường hợp xây dựng nghĩa trang gây ô nhiễm môi trường hoặc cảnh quan nghiêm trọng mà không thể khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng và không còn phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch nghĩa trang vùng tỉnh được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc bảo vệ môi trường và đảm bảo cảnh quan xanh đẹp của đất nước đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, và trong trường hợp này, việc chấm dứt hoặc di chuyển nghĩa trang có thể là biện pháp tốt nhất để giữ vững giá trị môi trường và quy hoạch xây dựng bền vững
Khi phục vụ cho những dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng theo quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trong trường hợp mộ vô chủ hoặc không còn người thân chăm sóc.
Việc di chuyển phần mộ riêng lẻ phải được thực hiện theo quy định cụ thể như sau:
- Thực hiện thông báo về việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ.
- Tiến hành công tác di chuyển vào các nghĩa trang đã được xây dựng và quản lý theo quy hoạch.
- Trong quá trình di chuyển, phải đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện chính sách về đền bù và giải tỏa theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, quá trình cải tạo, đóng cửa, di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ trên địa bàn do các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền quản lý phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tùy vào từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có trách nhiệm ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý việc di dời phần mộ trên đất của công dân.
Khi di chuyển nghĩa trang và phần mộ riêng lẻ nằm trong khu đất giải tỏa để thực hiện các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng, kinh phí liên quan đến bồi thường và hỗ trợ di chuyển mồ mả phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và xây dựng. Điều này đồng thời cũng đảm bảo rằng các gia đình và cá nhân bị ảnh hưởng bởi việc di chuyển này nhận được đền bù và hỗ trợ phù hợp, đồng thời giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của các dự án quan trọng đối với đô thị và cộng đồng
Trong trường hợp phần mộ nằm trên đất cá nhân, chủ sở hữu của đất đó phải chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí để đưa phần mộ vào nghĩa trang do địa phương quản lý để mai táng.
Từ các quy định trên, ta có thể kết luận rằng chủ đất có quyền yêu cầu con cháu của người đã mất di dời mộ mả trên đất của họ, nhằm tuân thủ quy định pháp luật và đảm bảo việc di chuyển nghĩa trang và phần mộ riêng lẻ được thực hiện một cách hợp pháp và đúng quy trình.
3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về mồ mả
Cơ quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013 đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai. Trong trường hợp tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được thực hiện, thì quy trình giải quyết tiếp theo được xác định như sau:
- Tranh chấp đất đai với đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất sẽ được giải quyết bởi Tòa án nhân dân.
- Tranh chấp đất đai với đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, đương sự có hai lựa chọn:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 của Điều 203 Luật đất đai.
+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Trong trường hợp đương sự chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, quy trình giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành như sau:
+ Trong trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình hoặc cá nhân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết. Nếu bên tranh chấp không chấp nhận quyết định giải quyết, họ có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
+ Trong trường hợp tranh chấp mà một bên là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giải quyết. Nếu bên tranh chấp không chấp nhận quyết định giải quyết, họ có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 phải thực hiện việc đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp một cách nghiêm túc và theo quy định. Quyết định này, một khi đã có hiệu lực, phải được các bên tranh chấp tuân thủ một cách tận tâm và đúng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp mà các bên liên quan không tuân thủ quyết định giải quyết tranh chấp, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành cưỡng chế thi hành quyết định này theo quy định của pháp luật.
Điều này đặt ra tầm quan trọng cực kỳ lớn về việc tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp đất đai. Tuân thủ này không chỉ là việc tuân thủ các quy định pháp luật mà còn đảm bảo tính công bằng và ổn định trong việc sở hữu và sử dụng đất đai, giúp bảo vệ quyền và lợi ích của tất cả các bên liên quan và thúc đẩy sự phát triển và hài hòa trong cộng đồng.
Xem thêm bài viết: Đất nghĩa trang, nghĩa địa xin cấp sổ đỏ có được không?. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ hotline 19006162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn