1. Người dân có được khởi kiện để bảo vệ quyền quản lý, chăm sóc, di dời mồ mả không?

Từ xưa đến nay, việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến mồ mả luôn là vấn đề nhức nhối khiến cơ quan nhà nước và người dân đều thật sự lúng túng không biết phải giải quyết ra sao. Bởi cho đến hiện nay cũng chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh cụ thể về vấn đề tranh chấp mồ mả. Chỉ có sự xuất hiện rải rác trên các văn bản pháp luật về đất đai, về dân sự. Từ đó dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ở đây là Ủy ban nhân dân các cấp và Tòa án nhân dân các cấp luôn từ chối người dân với lý do không có văn bản nào quy định giải quyết. Hoặc có tiếp nhận giải quyết nhưng đều gặp khó khăn trong việc đưa ra kết luận. 

Khoan bàn tới việc cơ quan nhà nước từ chối giải quyết như vậy có đúng quy định của pháp luật không. Tại phần này chúng ta sẽ chỉ đi tìm hiểu xem người dân có quyền để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc tự mình bảo vệ quyền quản lý, chăm sóc và di dời mồ mả hay không. Theo đó tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2015 hiện hành có quy định, cá nhân hoàn toàn có quyền bảo vệ quyền dân sự của mình thông qua cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó tại Điều 607 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định về việc Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

Xem thêm: Bồi thường về mồ mả khi nhà nước thu hồi đất theo quy định mới?

Vì vậy mặc dù pháp luật không có quy định chi tiết một văn bản hay một điều khoản riêng về việc giải quyết tranh chấp các quyền liên quan đến phần đất mồ mả nhưng theo nguyên tắc chung của bộ luật dân sự và bộ luật tố tụng dân sự thì người dân khi thấy mình bị xâm phạm về quyền dân sự, hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

2. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về mồ mả?

Căn cứ Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận vụ việc tranh chấp về đất mồ mả ở đây chính là Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền và Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền. 

Bên cạnh đó Tòa án cũng không được quyền từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Bởi căn cứ theo Điều 5 và Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu rõ những trường hợp không áp dụng được Bộ luật dân sự hoặc văn bản pháp luật khác thì có thể áp dụng tập quán hoặc áp dụng tương tự pháp luật. Cụ thể: 

Về việc áp dụng tập quán thì tập quán được hiểu là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Về việc áp dụng tương tự pháp luật thì trong trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015, án lệ, lẽ công bằng.

Như vậy Tòa án nhân dân các cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ là những cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có mồ mả theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về đất đai. Việc giải quyết nếu không có văn bản áp dụng thì hoàn toàn có thể áp dụng án lệ, tập quán. Hiện nay Án lệ số 56/2022/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết tranh chấp di dời mồ mả cũng là một án lệ đáng để xem xét nhằm giải quyết các vụ việc liên quan đến quản lý, di dời, chăm sóc mồ mả. Dù đây là một tranh chấp phức tạp, không được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên với Nguyên tắc về Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

3. Quy định về việc di dời mồ mả 

Thứ nhất theo Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng quy định trường hợp di chuyển phần mộ mà không có tranh chấp như sau:

Các trường hợp phải di chuyển gồm:

- Các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ phải di chuyển khi:

+ Gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng không có khả năng khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng, không còn phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn, quy hoạch tỉnh, quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch ngành có liên quan được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

+ Phục vụ các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng theo quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

+ Mộ vô chủ hoặc không còn thân nhân chăm sóc.

Trình tự, nhiệm vụ phải thực hiện khi di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ:

- Thông báo về việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ

- Tiến hành công tác di chuyển vào các nghĩa trang được xây dựng và quản lý theo quy hoạch

- Trong quá trình di chuyển phải bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các chính sách về giải tỏa, đền bù theo quy định của pháp luật.

Cơ quan có trách nhiệm di dời, cơ quan có thẩm quyền cải tạo, đóng cửa, di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ được quy định như sau: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan thực hiện việc cải tạo, đóng cửa, di chuyển các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý. Hiện nay tại từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đó Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, hòa giải giải quyết bước đầu với yêu cầu di dời phần mộ trên đất của công dân.

Kinh phí về việc di dời, di chuyển thì các nghĩa trang, phần mộ riêng lẻ nằm trong khu đất giải tỏa phải di chuyển để thực hiện các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng thì kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ về di chuyển mồ mả thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và xây dựng. Còn với những phần mộ nằm trên đất cá nhân thì người chủ sở hữu có trách nhiệm thanh toán các chi phí đưa phần mộ vào nghĩa trang do địa phương quản lý để mai táng.

Thứ hai là đối với trường hợp di chuyển phần mộ mà có tranh chấp giữa chủ mảnh đất và thân nhân phần mộ. Theo điểm a, khoản 1 điều 12 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP quy định thì các phần mộ phải di chuyển khi:

+ Gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng không có khả năng khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng, không còn phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn, quy hoạch tỉnh, quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch ngành có liên quan được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Do vậy những phần mộ trên trên đất của cá nhân khác thuộc trường hợp bắt buộc phải di chuyển. Để di chuyển các phần mộ này, trước tiên chủ sử dụng đất và thân nhân của người quản lý phần mộ cần tự thương lượng, hòa giải với nhau để đi đến giải quyết việc đồng ý di dời, hỗ trợ kinh phí di dời. Khi hòa giải hai bên đều phải có tinh thần thiện chí, hài hòa được yếu tố tín ngưỡng, tâm linh và quyền của người chủ sử dụng đất trong hoàn cảnh hiện thực đời sống xã hội.

Quá trình hai bên thương lượng hòa giải với nhau cần có sự tham gia của Ủy ban nhân dân cấp xã để đảm bảo hiệu quả của việc hòa giải, khả năng thực thi nội dung dung hòa giải giữa các bên. Trường hợp hợp các bên không đi đến thỏa thuận được tranh chấp về yêu cầu di chuyển phần mộ thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân nơi có bất động sản.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Quy định về quyền chăm sóc, quản lý, di dời mồ mả do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc!    

Nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách hãy vui lòng gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!