Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Xin chào Luật sư. Thưa Luật sư, tôi đang có một vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn, giải đáp: Tôi là một shipper của ShoppeeFood. Một hôm tôi có nhận được một đơn hàng cần giao tại một khu chợ nhỏ. Tôi nhận đơn và đem đồ đi giao như thường ngày. Đến nơi thì chỗ tôi phải giao họ đang tổ chức đánh bài, thật không may khi phía Công an đã xuất hiện ngay lúc đó và ra lệnh bắt hết mọi người có mặt tại chỗ đánh bạc lúc ấy. Hiện giờ tôi đang bị tạm giữ và nghe nói tôi cũng sẽ bị xử phạt hành chính vài triệu. Tôi muốn hỏi liệu trong trường hợp của tôi có bị xử phạt hành chính hay liên quan đến hình sự gì không?

Rất mong được luật sư tư vấn, giải đáp. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật hình sự năm 2015

- Nghị định 144/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống bạo lực gia đình.

2. Luật sư tư vấn:

1. Thế nào là đánh bạc? 

Đanh bạc là một trong những tệ nạn xã hội, một hành vi trái phép bị pháp luật Việt nam nghiêm cấm thực hiện. Hành vi đánh bạc thông thường sẽ được hiểu ngay là hành vi chơi bài bạc, nhưng theo pháp luật quy định, hành vi đánh bạc trái phép được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như:

"xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật" - khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021.

Như vậy, với mọi hình thức giải trí mang tính cá cược, cá độ như đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử, cá cược trò chơi thể thao... trái phép mà mục đích sẽ là thua hoặc tháng bằng tiền hoặc hiện vật sẽ đều là hành vi đánh bạc trái phép.

2. Quy định pháp luật hiện hành về xử lý hành vi đánh bạc

Hiện nay pháp luật Việt Nam có quy định hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị xử phạt hành chính theo từng trường hợp cụ thể. Nếu có dấu hiệu tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015:

" Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

Điều 28. Hành vi đánh bạc trái phép

1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật;

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

c) Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay trái phép tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

b) Bán số lô, số đề, bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng;

c) Giúp sức, che giấu việc đánh bạc trái phép;

d) Bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép;

đ) Chủ sở hữu, người quản lý máy trò chơi điện tử, chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh trò chơi điện tử hoặc các cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động đánh bạc ở cơ sở do mình quản lý.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;

b) Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc;

c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

Trong trường hợp của bạn ở trên, bạn đang là nhân viên shipper đi giao đồ ăn cho khách hàng tại khu chợ và khách hàng đó đang có hành vi chơi bạc tại thời điểm bạn giao đến nơi. Trong trường hợp này, khi đã bị Công an bắt thì bạn sẽ không bị xử phạt hành chính cũng như liên quan đến vấn đề hình sự nếu bạn có thể chứng minh được bạn không thực hiện hành vi đánh bạc trái phép như đã nêu ở trên. Trường hợp của bạn rất dễ để chứng minh, bởi bạn là nhân viên giao hàng bên ShoppeFood - một thương hiệu giao hàng nhanh nổi tiếng nên đương nhiên bạn sẽ có hợp đồng làm việc rõ ràng với bên công ty đó. Hợp đồng để chứng minh bạn là nhân viên của công ty và app giao hàng sẽ là minh chứng cho việc bạn chỉ là một người giao hàng bình thường cho khách. Hơn thế nữa, thời gian hiển thị trên app cũng sẽ chứng minh được bạn đến nơi giao hàng cùng thời điểm phía Công an xuất hiện tại khu đó, như vậy sẽ không có bằng chứng gì cho việc bạn có thực hiện một trong những hành vi đánh bạc trái phép nêu trên.

3. Cấu thành tội phạm Tội đánh bạc

Như đã phân tích ở trên, hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như mức thua thắng dưới 5 triệu nhưng trước đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc việc thua thắng trong đánh bạc mang giá trị từ 5 triệu đến dưới 50 triệu đồng. Vậy dấu hiệu để nhận biết Tội đánh bạc sẽ bao gồm bốn dấu hiệu chủ yếu sau:

Về mặt khách thể của tội phạm: Hành vi đánh bạc trái phép xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, quản lý xã hội. Mặc dù một số nước trên thế giới không nghiêm cấm hành vi đánh bạc, cho phép hoạt động đánh bạc nhưng pháp luật Việt Nam lại quy định đây là một trong những điều mà pháp luật cấm thực hiện dù dưới bất kỳ hình thức nào, làm ảnh hưởng đến lối sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của xã hội. Và hành vi đánh bạc cũng được coi là một tệ nạn xã hội

Xét về mặt khách quan: Tội phạm Đánh bạc được thực hiện bằng những hành vi cá độ, cá cược, xóc đĩa... và việc thua thắng được tính bằng tiền hoặc hiện vật như việc gắn nợ, bán vàng, bạc, cắm ô tô, xe máy hay bất kỳ đồ đạc nào khác. Tuy nhiên số tiền dùng để đánh bạc phải từ 5 triệu đồng trửo lên, nếu dưới 5 triệu đồng sẽ phải xem xét thêm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này lần nào chưa

Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện theo lỗi cố ý của chủ thể thực hiện. Những người đánh bạc biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Có nhận thức rõ ràng về hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, gây ra thiệt hại cho cộng đồng tuy nhiên vẫn cố ý muốn thực hiện vì lợi ích bản thân. Người phạm tội này với lỗi cố ý trực tiếp với mục đích nhằm thu lợi cá nhân, lấy tiền tài sản của người thua bạ

Và cuối cùng là về mặt chủ thể của tội phạm: Là cá nhân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo luật quy định, không thuộc chủ thể đặc biệt. Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sđbs 2017) thì độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với mọi tội danh mà mình gây ra là từ đủ 16 tuổi trở lên (riêng đối với các tội danh rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi). Như vậy với độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc thì là các cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên.

4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc

Tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ của tội đánh bạc được quy định cụ thể tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sđbs 2017). Những tình tiết này sẽ là căn cứ để Toà án quyết định khung hình phạt của loại tội phạm này:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng;

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt

5. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê