1. Có nên nói với con chuyện bố mẹ đã ly hôn ?

Vì rất nhiều lý do nên vợ chồng tôi đã ly hôn khi con gái mới 3 tuổi, và tôi là người được quyền nuôi cháu, sau khi ly hôn con gái tôi hiếm khi gặp mẹ. Bây giờ cháu đã 8 tuổi, tôi vẫn nói dối cháu là mẹ đi làm xa, tôi biết là không thể giấu cháu mãi được nhưng nói ra sợ làm con tổn thương và ảnh hưởng đến chuyện học hành của con. Tôi thấy rất hoang mang không biết có nên nói với con và nói với con bằng cách nào ?

Trả lời:

Bạn thân mến, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và chia sẻ vấn đề của bạn cùng chúng tôi.

Chắc hẳn khi đã quyết định kết hôn ai cũng hướng tới xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, vợ chồng bạn buộc phải đi đến quyết định ly hôn. Là một người bố hết mực yêu thương con, bạn lo sợ con bị tổn thương, bởi vậy bạn đã giấu con chuyện này trong thời gian khá dài. Có lẽ bạn đã phải suy nghĩ rất nhiều về quyết định nói hay không nói với con sự thật.

Trước tiên, nếu không nói với con sự thật, bạn có thể tránh cho con sự tổn thương tạm thời, nhưng tôi tin trẻ con rất nhạy cảm, chúng có thể cảm nhận được có điều gì đó bất ổn đang xảy ra thông qua quan sát thái độ của mọi người xung quanh cũng như của bạn. Bạn cũng biết là không thể giấu con mãi được, nếu một ngày con bạn phát hiện ra việc bố mẹ đã ly hôn mà không phải thông qua bạn, liệu cháu có không cảm thấy bị lừa dối ? Liệu khi ấy con bạn có không bị tổn thương ?

Nếu nói ra, có thể con bạn sẽ không dễ dàng chấp nhận sự thật ngay lập tức nhưng với tình yêu thương của bạn cũng như của những người thân xung quanh, con bạn sẽ dần dần vượt qua khó khăn và vẫn có thể phát triển tốt. Biết sự thật sớm, cũng có thể là cơ hội để cháu có thêm thời gian hồi phục khỏi khó khăn này. Nếu chính bạn là người nói ra, sẽ tránh được khả năng sự thật bị bóp méo bởi người khác khiến cháu hiểu sai tình hình.

Bạn cũng băn khoăn là nên nói với con bằng cách nào? Hãy chọn thời gian, địa điểm phù hợp, đủ yên tĩnh để nói với con, có thể là sau bữa ăn tối hoặc cuối tuần để tránh cuộc nói chuyện bị gián đoạn hoặc làm phiền. Nếu thấy khó khăn, hãy xác định trước những gì cần nói với con và tập nói trước để không bị lúng túng. Thông báo với con vấn đề chính một cách đơn giản như: “Bố mẹ đã chia tay vì không thể sống hòa hợp cùng nhau nhưng bố mẹ luôn yêu con.” Nhấn mạnh vào tình yêu thương của bạn dành cho con, và chuẩn bị trả lời những thắc mắc của con, bạn cũng có thể giải thích rằng: “Bố sợ con bị tổn thương nên đã giấu con nhưng bố nghĩ bây giờ con gái bố đã đủ lớn và con có quyền được biết sự thật” để con bạn cảm thấy được tôn trọng. Dù sao thì cũng nên tránh nói chi tiết những mâu thuẫn giữa vợ chồng bạn, tránh nói những điều chỉ trích vợ cũ hoặc khiến con bạn cảm thấy bị mẹ bỏ rơi và hận thù mẹ, hãy giúp con bạn học được sự bao dung từ bạn bởi hận thù không bao giờ là tốt cho ai đó.

Cho dù con bạn có dễ dàng chấp nhận được sự kiện này hay không thì bạn cũng nên chuẩn bị trước tâm lý đối mặt với những phản ứng xấu của con. Có thể con bạn sẽ cần nhiều thời gian, nhưng khi vượt qua được khó khăn này cháu sẽ càng mạnh mẽ và trưởng thành hơn.

Hi vọng rằng những chia sẻ của chúng tôi phần nào hữu ích cho bạn. Nếu còn bất cứ băn khoăn nào, bạn đừng ngần ngại gọi cho chúng tôi qua tổng đài: 1900.6162

Chúc bạn và con gái mọi điều tốt lành !

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu có điều gì cần chia sẻ, trợ giúp về tâm lý quý khách hãy gọi đến tổng đài tư vấn tâm lý : 1900.6162 chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cùng bạn tháo gỡ khó khăn !

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Quyết định người nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn

Chào luật sư. Em có một số vấn đề cần hỏi. Mong luật sư tư vấn giúp em. E và chồng e có hai đứa con. Đứa lớn 7tuổi và đứa nhỏ 4 tuổi. Nay em với chồng e thuận tình ly hôn còn việc nuôi con thì chồng e cũng muốn giành quyền nuôi 2 đứa con. E cũng vậy. Thằng con lớn thì khai với tòa là ở với mẹ. Còn thằng nhõ thì e có được quyền nuôi nó ko. E làm kế toán thu nhập 10tr/tháng. Còn chồng e chạy xe tải thu nhập cũng dao động. E với chồng e ly thân hơn 1 năm nay. Hai đứa con thì đang ở với e và học hành đang ổn định.
Vợ chồng ko thỏa thuận được nếu tóa an xét xử thì thằng nhỏ e có được theo mẹ ko. Và làm sao để e nuôi nó. Nó còn nhỏ ko có mẹ tội nghiệp lắm ?
Mong luật sư trả lời giúp e.

Luật sư trả lời:

Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Thuận tình ly hôn:

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Như vậy, đối với trường hợp của chị mặc dù anh chị đã đồng ý ly hôn nhưng vẫn còn tranh chấp về vấn đề nuôi con nên sẽ được Tòa án giải quyết việc ly hôn.

- Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."

=> Trong trường hợp của chị có thể Tòa án sẽ tuyên anh chị mỗi người sẽ trực tiếp nuôi một con. Nếu chị muốn nuôi cả hai con chị phải chứng minh được chị đủ điều kiện về tài chính, thời gian và việc chị nhận nuôi cả hai con nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng về mọi mặt cho con, như việc con đang sống riêng với chị và thuận tiện cho việc học hành của con, hai con mong muốn được sống chung cùng nhau và ở với mẹ... Đồng thời, chị chỉ ra được chứng cứ chứng minh về việc trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chồng chị không hề đến thăm, hỏi han, chăm sóc con... để Tòa dựa vào đó để quyết định về việc chị có quyền nuôi cả hai con hay không.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án ly hôn ?

Thưa luật sư. Tôi có thắc mắc muốn được luật sư giải đáp và tư vấn. "Vợ của anh trai tôi đã làm đơn xin ly hôn. Nhưng lại không có đơn viết tay để anh trai ký. Mà toàn án nhân dân huyện tôi đã gửi giấy triệu tập. Luật sư cho tôi biết như vậy có đúng với trình tự pháp luật không? Anh trai tôi có nên xuống theo giấy triệu tập của tòa án không? Và trong quá trình xét xử việc ly hôn đó tôi là em trai có thể đại diện biện hộ anh trai tôi không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

-Thứ nhất, Hiện vợ anh trai bạn làm đơn ly hôn nhưng không có giấy viết tay của anh trai ký, với trường hợp này xác định rằng người vợ đã tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương mà không có chữ ký của một bên. Hiện nay tòa án vẫn thụ lý hồ sơ ly hôn đơn phương khi người vợ cung cấp đầy đủ hồ sơ và có căn cứ chứng minh rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài.

- Thứ hai, Đối với ly hôn đơn phương

Theo quy định tại Điều 199 Bộ luật tố tụng sửa đổi năm 2011:

Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.

2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

Như vậy, khi anh trai bạn lần thứ nhất tòa án gọi không đến thì tòa sẽ tạm hoãn phiên tòa và đến lần triệu tập thứ 2 anh trai bạn không đến thì tòa sẽ xét xử vắng mặt bị đơn, tòa sẽ căn cứ vào những quy định trên để xử lý việc giải quyết ly hôn. Bên cạnh đó, bạn sẽ không có quyền biện hộ cho anh trai mình trong vụ án ly hôn trừ trường hợp anh trai không có khả năng điều khiển hành vi, không đủ nhận thức và cần có người đại diện theo pháp luật của anh trai.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Giải quyết ly hôn khi vắng mặt một bên ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn giành quyền nuôi 2 con và chia tài sản khi ly hôn

Kính gửi luật sư, Vợ chồng tôi lấy nhau được 6 năm đến nay được 2 cháu: 1 cháu 5 tuổi và 1 cháu 2 tuổi; tôi là nhân viên văn phòng của 1 công ty tư nhân lương 10 triệu/ tháng; chồng tôi là giám đốc công ty xây dựng. Chồng tôi đi làm từ sáng đến tối; thứ 7 chủ nhật cũng như ngày lễ đều không ở nhà, tối về nhà ăn cơm xong thì ngủ và ngủ. Anh không đưa tiền cho tôi để chăm con. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt từ khi tôi sinh bé thứ nhất. Chồng không có trách nhiệm với vợ con: ngủ riêng, không chăm sóc, chơi, dạy dỗ con, không đưa tiền. Tôi chịu đựng và cố gắng níu kéo thì có bé thứ 2 nhưng chồng tôi vẫn không thay đổi. Vì vậy, vợ chồng tôi ly thân từ khi bầu bé thứ 2 được 3 tháng.
Về tài sản, 1. Chồng tôi là giám đốc 1 công ty cổ phần (vốn điều lệ chồng là 30%) nhưng thực tế 2 cổ đông kia chỉ có tên trên đăng ký kinh doanh không làm việc ở công ty 2. Một chiếc ô tô CRV giấy tờ khi mua là 710 triệu đồng. Người mua đứng tên chồng, không có tên vợ. 3. Tài khoản nợ: thế chấp sổ đỏ vay ngân hàng 800 triệu đồng.
Hiện tại, giấy tờ đăng ký kinh doanh, giấy tờ xe và vay nợ đều do chồng tôi cất giữ. Tôi muốn hỏi luật sư:
1. Về tài sản tôi có được chia không? Tôi cần chứng minh điều gì để được chia tài sản? Và được chia như thế nào?
2. Về con cái: tôi muốn nuôi cả 2 con tôi cần chứng minh điều gì?
Xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất: Vấn đề chia tài sản khi ly hôn:

Tài sản chung vợ, chồng và tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo những quy định kể trên, khi ly hôn, chỉ tài sản chung của vợ chồng mới phải phân chia, tài sản riêng của mỗi người vẫn thuộc sở hữu của người đó. Trường hợp của bạn, tất cả các tài sản đều đứng tên chồng bạn nhưng nếu bạn có thể chứng minh đó là tài sản chung được tạo lập từ một phần công sức của bạn hoặc chứng minh được đó là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (Khoản 1 điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân) thì đó vẫn được coi là tài sản chung và được phân chia theo quy định tại điều 59 Luật hôn nhân gia đình.

Đối với khoản nợ mà chồng bạn vay, nếu bạn có thể đưa ra chứng cứ chứng minh rằng khoản vay đó phát sinh không vì nhu cầu chung của gia đình thì bạn không phải trả khoản nợ đó cùng với chồng. Căn cứ quy định tại Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

2. Vấn đề giành quyền nuôi con:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có một con 5 tuổi và một con 2 tuổi. Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi dưỡng. Cụ thể vấn đề phân chia quyền nuôi con được quy định cụ thể như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo đó, muốn giành quyền nuôi cả hai con thì bạn cần chứng minh mình có đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng tốt các con mình và có thể mang lại điều kiện sống tốt hơn cho con. Khi xem xét giải quyết vấn đề quyền nuôi con sau khi ly hôn, tòa án sẽ xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến điều kiện sống của đứa trẻ mà không chỉ tính đến khả năng tài chính của hai bên bố, mẹ. Tòa án sẽ quyết định quyền nuôi con thuộc về bên có thể đem lại điều kiện, môi trường sống tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của đứa trẻ. Bạn cần đưa ra các chứng cứ chứng minh những điều kiện bất lợi khi con cái bạn sống chung với bố như: Không quan tâm chăm sóc con, hay đi công tác, có biểu hiện không lành mạnh trong lối sống, sinh hoạt... để Tòa án có đủ căn cứ đưa ra quyết định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn vợ chồng không cùng nơi cư trú nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau: vợ chồng tôi kết hôn và có một bé trai 3 tuổi. Do tình cảm vợ chồng thương xuyên xảy ra mâu thuẫn và gia đình gặp nhiều khó khăn nên vờ chồng tôi đưa con vào Sài Gòn làm đế cải thiện cuộc sống nhưng làm chưa được 1 năm thì chồng tôi đưa con về quê không vào nữa.
Hoàn cảnh gia đinh đã rất khó khăn nhưng anh ấy không chịu khó làm để cải thiện,vì vậy vợ chồng tôi ly thân tư đó đến nay hơn 1 năm rồi.và tôi cũng không muốn kéo dài mối quan hệ này nữa. Tôi quê ở đồng Nai, lấy chồng và đăng ký hộ khẩu, nhập khẩu ở Phú Thọ. Nay tôi muốn làm đơn ly hôn nhưng chồng tôi không ký luật sư tư vấn giúp tôi phải làm gì bây giờ? Tôi không muốn ra Bắc nữa thì tôi có thể nộp đơn ở Đồng Nai có được không?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Quyết định người nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, vợ chồng bạn kết hôn và trong đời sống hôn nhân vợ chồng bạn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bạn hiện đang ly thân được hơn 1 năm giờ bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không ký đơn ly hôn thì trong trường hợp này bạn có thể đơn phương ly hôn theo yêu cầu của một bên.

- Về hồ sơ để chuẩn bị cho thủ tục đơn phương ly hôn, bạn cần chuẩn bị các loại giấy tờ sau:

+ Đơn ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ Bản sao Giấy chứng minh nhân dân của 2 vợ chồng;

+ Bản sao sổ hộ khẩu;

+ Bản sao giấy khai sinh của con;

+ Các giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng (nếu có).

- Về Tòa án mà bạn phải nộp đơn:

Điều 35: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam."

Theo Khoản 1_Điều 39: Thẩm quyền Toà án theo lãnh thổ

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

=> Như vậy, sau khi chuẩn bị xong hồ sơ, bạn đem hồ sơ trên nộp ở Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú. Do vậy bạn không thể nộp đơn ly hôn ở Đồng Nai được mà bạn phải nộp đơn ở Tòa án nhân dân huyện nơi mà chồng bạn sinh sống cư trú ở Phú Thọ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?