1. Giải thích những từ ngữ có liên quan

Các đảng viên thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam là những chiến sĩ cách mạng, luôn đứng ở hàng đầu của giai cấp công nhân Việt Nam, cam kết suốt đời phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng. Họ đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân, tuân thủ nghiêm ngặt Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng viên phải hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ được giao, giữ đạo đức và lối sống lành mạnh, và duy trì mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Họ phải tôn trọng và tuân thủ tổ chức và kỷ luật của Đảng, duy trì sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng.

Về việc ly hôn, theo Khoản 14 Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân dưới sự ra phán quyết của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án có thể thể hiện dưới hai hình thức:

- Nếu cả hai bên vợ chồng đều đồng tình và thỏa thuận về việc ly hôn và cũng đã giải quyết tất cả các nội dung liên quan đến quan hệ vợ chồng khi ly hôn, Tòa án sẽ ra phán quyết dưới dạng quyết định.

- Nếu vợ chồng có xung đột và tranh chấp về việc ly hôn, Tòa án sẽ ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

 

2. Có phải báo cáo chi bộ khi Đảng viên ly hôn hay không?

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ly hôn là quá trình chấm dứt quan hệ hôn nhân. Điều này xảy ra khi cả hai bên đều tự nguyện ly hôn hoặc có căn cứ về việc giữa vợ chồng xuất hiện các hành vi bạo lực gia đình hoặc các hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của bên còn lại, dẫn đến tình trạng hôn nhân trở nên nghiêm trọng và mục tiêu của hôn nhân không thể thực hiện được.

Tuy nhiên, đối với Đảng viên, việc ly hôn liên quan đến lý lịch cá nhân và mối quan hệ với cơ sở chi bộ trong Đảng. Do đó, một số vấn đề cơ bản được đặt ra, ví dụ: khi ly hôn, liệu Đảng viên có cần phải báo cáo cho chi bộ của họ đang sinh hoạt hay không?

Theo quy định tại Điều 39 của Điều lệ Đảng, đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, các điều sau đây áp dụng cho việc xem xét kỷ luật đảng viên và tổ chức Đảng:

- Đảng viên vi phạm sẽ phải trình kiểm điểm trước chi bộ và tự thừa nhận hình thức kỷ luật. Nếu họ từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức Đảng vẫn sẽ tiến hành xem xét kỷ luật. Trong trường hợp cần thiết, cấp ủy và ủy ban kiểm tra có thẩm quyền cấp cao hơn sẽ thực hiện xem xét kỷ luật trực tiếp.

- Tổ chức Đảng vi phạm sẽ phải tự thừa nhận hình thức kỷ luật và báo cáo lên cấp ủy cấp trên để quyết định.

- Trước khi quyết định về kỷ luật, đại diện của tổ chức Đảng có thẩm quyền sẽ nghe ý kiến của đảng viên vi phạm hoặc đại diện của tổ chức Đảng vi phạm.

- Quyết định về kỷ luật của cấp dưới đối với tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm phải được báo cáo lên cấp ủy và uỷ ban kiểm tra cấp cao hơn trực tiếp. Trong trường hợp đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ quan lãnh đạo của Đảng, phải báo cáo đến các cơ quan lãnh đạo cấp cao hơn mà họ là thành viên.

- Quyết định về kỷ luật của cấp cao hơn đối với tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo cho cấp dưới, nơi có tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm. Trong trường hợp cần phải thông báo rộng hơn, thì cấp ủy có thẩm quyền sẽ quyết định việc thông báo.

- Kỷ luật đối với tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm sẽ có hiệu lực ngay sau khi quyết định được công bố.

- Tổ chức Đảng và đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật có quyền khiếu nại trong vòng một tháng kể từ ngày nhận quyết định. Khiếu nại này sẽ được gửi đến cấp ủy hoặc uỷ ban kiểm tra cấp cao hơn, và quy trình giải quyết khiếu nại sẽ tuân theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

- Khi cấp ủy hoặc uỷ ban kiểm tra nhận được khiếu nại về kỷ luật, họ sẽ thông báo cho tổ chức Đảng hoặc đảng viên khiếu nại biết. Trong vòng ba tháng đối với cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương đương, hoặc sáu tháng đối với cấp Trung ương kể từ ngày nhận khiếu nại, họ phải xem xét, giải quyết và cung cấp câu trả lời cho tổ chức Đảng và đảng viên khiếu nại biết.

- Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức Đảng và đảng viên bị kỷ luật phải tuân theo quyết định kỷ luật một cách nghiêm chỉnh.

Theo quy định tại Quy định số 37-QĐ/TW, hiện tại, việc ly hôn của Đảng viên không được coi là vi phạm pháp luật và không thuộc vào những trường hợp Đảng viên không được thực hiện. Về mặt lý thuyết, không cần thiết phải báo cáo với chi bộ. Tuy nhiên, để đảm bảo thuận tiện cho việc tra cứu thông tin cá nhân của Đảng viên trong tương lai, bạn nên tự nguyện thông báo việc ly hôn của mình cho chi bộ, để cập nhật thông tin cá nhân kịp thời.

 

3. Khi nào Đảng viên ly hôn bị kỷ luật?

Quy định tại Điều 51 của Quy định số 69-QĐ/TW chỉ áp dụng kỷ luật đối với những vi phạm liên quan đến hôn nhân và gia đình mà không nêu rõ việc ly hôn là một trong những hành vi bị kỷ luật. Thay vào đó, những vi phạm liên quan đến ly hôn mà đạt mức độ đáng kỷ luật cho Đảng viên bao gồm:

- Kỷ luật khiển trách: Can thiệp vào quyết định ly hôn của con hoặc cản trở quyền thăm con sau ly hôn cho người không phải là người nuôi dưỡng con trực tiếp, trừ trường hợp người đó bị hạn chế quyền thăm con theo quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

- Cảnh cáo hoặc cách chức (nếu Đảng viên đó có chức vụ): Đối với trường hợp vi phạm đủ mức khiển trách và tái phạm hoặc vi phạm lần đầu nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng.

- Khai trừ: Nếu vi phạm quy định khiển trách như nêu trên và gây ra hậu quả rất nghiêm trọng hoặc từ chối cung cấp hỗ trợ nuôi dưỡng con sau ly hôn theo quy định.

Như vậy, chỉ có những hành vi liên quan đến ly hôn và đạt đủ mức độ vi phạm như quy định ở trên mới sẽ dẫn đến việc kỷ luật Đảng viên. Một khi cuộc sống hôn nhân không còn thực hiện được và đời sống chung gặp nhiều khó khăn, hai vợ chồng hoặc một trong hai có quyền yêu cầu ly hôn thuận tình hoặc đơn phương.

 

4. Khi ly hôn, Đảng viên khai lý lịch Đảng như thế nào?

Lý lịch của Đảng viên là tài liệu quan trọng mà Đảng viên phải bổ sung và cập nhật liên tục từ thời điểm xem xét và kết nạp vào Đảng, thông qua các giai đoạn như kết nạp chính thức, công nhận chính thức, hoặc bổ sung hồ sơ hàng năm, và khi tham gia vào các hoạt động Đảng chính thức.

Trong lý lịch Đảng viên, một phần quan trọng là thông tin về gia đình, bao gồm chi tiết về cha mẹ của Đảng viên, vợ/chồng, hoặc anh, chị, em ruột của vợ/chồng; cũng như thông tin về con cái của Đảng viên bao gồm thành phần giai cấp, lịch sử chính trị, họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú, nghề nghiệp, và nhiều thông tin khác.

Vì vậy, khi một Đảng viên trải qua quá trình ly hôn, thông tin về vợ hoặc chồng cũ không cần phải được bổ sung trong lý lịch nữa, vì tại thời điểm khai báo lý lịch, mối quan hệ hôn nhân giữa Đảng viên và vợ/chồng cũ đã kết thúc.

Tuy nhiên, trong trường hợp Đảng viên và vợ/chồng cũ vẫn có con chung, thông tin về con cái này vẫn cần được bổ sung đầy đủ trong lý lịch của Đảng viên. Bất kể việc vợ chồng đã ly hôn, quan hệ cha con hoặc mẹ con giữa Đảng viên và con cái vẫn tiếp tục tồn tại, và vì vậy, thông tin về con cái vẫn còn giữ giá trị quan trọng trong lý lịch Đảng viên.

Bài viết liên quan: Cách viết bản kiểm điểm Đảng viên hay nhất 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!