1. Khi nào công bố Luật đất đai mới nhất ?

Theo quy định tại Điều 80 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, quá trình công bố luật, pháp lệnh, và nghị quyết được xác định rõ. Cụ thể, Chủ tịch nước có trách nhiệm công bố luật, pháp lệnh, nghị quyết trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chúng được Quốc hội thông qua.

Theo đó: Luật và pháp lệnh thông thường: Chủ tịch nước phải công bố chúng chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Quốc hội thông qua. Luật và pháp lệnh được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn: Trong trường hợp này, Chủ tịch nước phải công bố chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày Quốc hội thông qua.

Dựa trên quy định trên, sau quyết định của Quốc hội vào ngày 18/01/2024, văn bản chính thức của Luật Đất đai sửa đổi sẽ được công bố chậm nhất là 15 ngày sau ngày đó, tức là vào ngày 02/02/2024. 

Về hiệu lực, Theo Dự thảo Luật Đất đai năm 2024, đã quy định rõ về thời điểm có hiệu lực thi hành. Theo Điều 252 của Dự thảo, Luật Đất đai sửa đổi 2024 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2025. Tuy nhiên, điều này không áp dụng cho một số trường hợp cụ thể được quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều 252.

Khoản 2 của Điều 252 nêu rõ rằng Điều 190 và Điều 248 của Luật này sẽ có hiệu lực sớm hơn, từ ngày 01 tháng 04 năm 2024. Điều này đồng nghĩa với việc một số quy định và điều chỉnh về đất đai sẽ bắt đầu áp dụng trước thời điểm chính thức của Luật. Điều này có thể liên quan đến những quy định cụ thể và quan trọng, mà người dân và doanh nghiệp cần phải chú ý và tuân theo từ thời điểm này.

Ngoài ra, Điều 252 cũng đề cập đến việc tiếp tục thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo quy định của Nghị quyết số 61/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội. Việc này được giữ nguyên và tiếp tục thực hiện trong thời kỳ từ năm 2024 trở đi. Mục tiêu là tiếp tục tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, cũng như giải quyết những khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ lập và nâng cao chất lượng quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030.

Một điểm quan trọng khác được đề cập đến trong Điều 252 là việc hết hiệu lực của Khoản 9 Điều 60 từ ngày Nghị quyết số 61/2022/QH15 hết hiệu lực thi hành. Điều này đồng nghĩa với việc một số quy định cụ thể của Luật Đất đai sửa đổi 2024 sẽ chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian cụ thể và sẽ không áp dụng về sau.

Cuối cùng, Luật Đất đai số 45/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 35/2018/QH14, được quy định sẽ hết hiệu lực kể từ ngày Luật sửa đổi 2024 có hiệu lực thi hành. Điều này chính là quy định chuyển giao quyền lực và thay đổi pháp luật liên quan đến đất đai từ Luật cũ sang Luật mới.

Tóm lại, chậm nhất 15 ngày kể từ ngày 18/01/2024 sẽ có toàn văn Luật Đất đai mới nhất với những quy định chi tiết này, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp và các định chính phủ địa phương cần phải làm rõ về thời điểm và cách thức thực hiện của Luật Đất đai sửa đổi 2024, đồng thời chuẩn bị cho những thay đổi và ảnh hưởng từ các quy định mới

 

2. Theo Luật đất đai mới, chỉ có một trường hợp hộ gia đình được giao đất đúng không?

Ngày 18/01, Quốc hội đã bế mạc Kỳ họp bất thường lần thứ 5, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, và đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi). Một trong những điểm nổi bật của Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024 là quy định về hộ gia đình và quyền sử dụng đất, điều này sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách quản lý và phân phối đất đai tại Việt Nam.

Theo khoản 25 của Điều 3 trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024, hộ gia đình sử dụng đất được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Điều kiện chung là các thành viên của hộ gia đình này đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Dựa trên nội dung trên, có thể nhận thấy rằng Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024 chỉ công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình mà đã có quan hệ và quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực. Điều này hạn chế rất nhiều trường hợp mới có thể được nhận đất ở sau khi Luật có hiệu lực.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 119 của Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024, từ ngày 01/01/2025, hộ gia đình chỉ sẽ được giao đất (bao gồm cả đất ở) hoặc cho thuê đất nếu họ thuộc vào trường hợp được bồi thường bằng đất khi Nhà nước thu hồi đất. Điều này tạo ra một điểm quan trọng, là chỉ một trường hợp duy nhất mà hộ gia đình có thể nhận đất ở là khi họ được bồi thường bằng đất do Nhà nước thu hồi đất.

Đối với những hộ gia đình sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực, thì theo Điều 259 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024, họ sẽ được tham gia quan hệ pháp luật về đất đai với tư cách nhóm người sử dụng đất theo quy định tại Điều 27 của Luật này. Các quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được thực hiện như quyền và nghĩa vụ của cá nhân sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Tóm lại, Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2024 đúng như nêu, chỉ công nhận một trường hợp duy nhất hộ gia đình được giao đất ở từ ngày 01/01/2025, giới hạn nhiều trường hợp mới có thể nhận đất và cùng lúc đề cao quyền và nghĩa vụ của những hộ gia đình sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực

 

3. Trường hợp nào giao đất không thông qua đấu giá ?

Theo quy định của Điều 118 Luật Đất đai 2013, việc giao đất có thể diễn ra thông qua đấu giá hoặc trong một số trường hợp cụ thể, không cần thông qua quá trình đấu giá. Cụ thể, những trường hợp giao đất không thông qua đấu giá theo quy định hiện nay được đề cập rõ trong khoản 2 của Điều 118:

- Giao đất không thu tiền sử dụng đất:

+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức.

+ Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất vào mục đích quốc phòng, công cộng không nhằm mục đích kinh doanh, đất làm nghĩa trang, không thuộc dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang.

+ Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp.

+ Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước.

+ Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.

- Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất:

+ Sử dụng đất vào mục đích sản xuất thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

+ Sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng, hộ gia đình nghèo, dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

+ Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số.

+ Sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp của các tổ chức sự nghiệp công lập.

+ Đất xây dựng kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay.

+ Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

 - Được Nhà nước cho thuê đất trong một số trường hợp:

+ Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quy định hạn mức giao đất nông nghiệp.

+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao sử dụng đất để xây dựng trụ sở làm việc.

+ Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

- Sử dụng đất vào mục đích hoạt động khoáng sản.

- Sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội và nhà ở công vụ.

- Giao đất ở cho cán bộ, công chức, viên chức chuyển nơi công tác theo quyết định điều động của cơ quan có thẩm quyền.

- Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại xã mà không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở.

- Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại thị trấn thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn mà không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở.

- Các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Tóm lại, những trường hợp không thông qua đấu giá để giao đất được đề cập trong Luật Đất đai 2013 đều được quy định cụ thể, đảm bảo sự minh bạch và rõ ràng trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai tại Việt Nam

Bài viết liên quan:Trường hợp nào nhà nước sẽ giao đất có thu tiền sử dụng đất?

Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn