1. Quy định về cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng không khí lạnh
Theo Thông tư 25/2022/TT-BTNMT, có hiệu lực từ ngày 15/03/2023, việc phân tích và đánh giá hiện trạng của không khí lạnh được thực hiện dựa trên 04 cơ sở chính. Trong đó, có những điểm quan trọng cần được xem xét và đối chiếu để hiểu rõ hơn về tình hình thời tiết và ảnh hưởng của không khí lạnh. Cụ thể:
- Đánh giá và phân tích hình thế thời tiết ảnh hưởng đến không khí lạnh: Để nhận dạng và phân tích ảnh hưởng của không khí lạnh, chúng ta thực hiện đánh giá chi tiết số liệu thu thập được từ các trạm quan trắc thời tiết. Các thông số như nhiệt độ, áp suất không khí, độ ẩm, và hướng gió được xem xét để xác định các hình thế thời tiết. Các biến đổi đột ngột trong các yếu tố này có thể là dấu hiệu của sự xuất hiện của không khí lạnh và được phân tích để đưa ra dự báo.
- Xác định cường độ không khí lạnh:
+ Nhiệt độ thấp nhất: Đánh giá sự giảm nhiệt độ thấp nhất trong khu vực nghiên cứu. Sự giảm này có thể là dấu hiệu của không khí lạnh đang di chuyển vào.
+ Gió mạnh trên biển: Xác định cường độ gió mạnh trên biển, đặc biệt là gió từ hướng Bắc hoặc Đông Bắc, có thể là tín hiệu của sự xuất hiện của không khí lạnh.
+ Khả năng xuất hiện các hiện tượng thời tiết bắt nguồn từ không khí lạnh: Đánh giá khả năng xuất hiện của rét đậm, rét hại, băng giá, và sương muối dựa trên sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm.
- Xác định phạm vi của không khí lạnh:
+ Phạm vi không khí lạnh: Xác định diện tích mà không khí lạnh đang ảnh hưởng và đối sánh với diện tích các hiện tượng thời tiết liên quan.
+ Phạm vi của các hiện tượng thời tiết: Xác định phạm vi của rét đậm, rét hại, băng giá, và sương muối để đánh giá ảnh hưởng của không khí lạnh trên khu vực nghiên cứu.
- Xác định diễn biến của không khí lạnh trong 24 đến 48 giờ trước:
+ Cường độ không khí lạnh và phạm vi xảy ra: Phân tích cường độ không khí lạnh trong khoảng thời gian đã qua và dự báo cường độ trong 24 đến 48 giờ tiếp theo.
+ Diễn biến thời tiết: Dự báo diễn biến thời tiết về nhiệt độ thấp nhất, gió mạnh, gió giật, và các hiện tượng thời tiết liên quan khác để cung cấp thông tin chi tiết và kịp thời cho người quản lý thời tiết và cộng đồng.
Bằng cách này, việc phân tích và đánh giá hiện trạng của không khí lạnh trở nên chi tiết và có ích để dự báo và cảnh báo về các tình huống thời tiết đặc biệt.
2. Trường hợp bản tin dự báo, cảnh báo không khí lạnh được ban hành đối với hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quốc gia
Theo quy định của khoản 5 Điều 17 trong Thông tư 25/2022/TT-BTNMT, có hiệu lực từ ngày 15/03/2023, việc quy định về quy trình kỹ thuật dự báo và cảnh báo liên quan đến không khí lạnh, rét đậm, rét hại, băng giá, và sương muối là rất quan trọng để đảm bảo an toàn và chuẩn bị cho mọi tình huống thời tiết khẩn cấp. Dưới đây là mô tả chi tiết về việc xây dựng bản tin dự báo và cảnh báo, theo quy định cụ thể của Thông tư:
- Xây dựng và ban hành bản tin dự báo, cảnh báo rét lạnh và sương muối: Tuân thủ quy định tại khoản 2 của Điều 23 và khoản 2 của Điều 24 của Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg. Bản tin này phải bao gồm thông tin chi tiết về rét hại và sương muối theo quy định.
- Xây dựng và ban hành bản tin dự báo, cảnh báo không khí lạnh và rét lạnh, băng giá: Ban hành tin gió mùa Đông Bắc khi phát hiện gió mùa Đông Bắc có cường độ trung bình trở lên. Ban hành tin gió mùa Đông Bắc và ré lạnh khi phát hiện gió mùa Đông Bắc có cường độ trung bình trở lên và khả năng gây ré lạnh diện rộng. Ban hành tin không khí lạnh tăng cường khi phát hiện không khí lạnh tăng cường có cường độ trung bình trở lên. Ban hành tin không khí lạnh tăng cường và ré lạnh khi phát hiện không khí lạnh tăng cường có cường độ trung bình trở lên và khả năng gây ré lạnh diện rộng.
- Nội dung bản tin dự báo và cảnh báo gồm: Diễn biến không khí lạnh trong thời gian đã qua đến hiện tại về cường độ, hướng và tốc độ di chuyển, biến đổi thời tiết. Dự báo không khí lạnh trong 24 đến 48 giờ tới về sự di chuyển, thời điểm ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và phạm vi ảnh hưởng. Dự báo diễn biến thời tiết về nhiệt độ thấp nhất, gió mạnh, gió giật tại một khu vực cụ thể trên đất liền và gió mạnh, gió giật, sóng lớn tại một vùng biển cụ thể (nếu có). Khả năng xuất hiện rét đậm, rét hại, băng giá, sương muối, mưa tuyết, dông, sét, tố, lốc, mưa đá, mưa lớn đi kèm. Khả năng tác động đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Thông tin về thời gian ban hành: Thời gian ban hành bản tin và thời gian ban hành bản tin tiếp theo cần được xác định rõ ràng. Tên và chữ ký của người chịu trách nhiệm ban hành tin cũng cần được đính kèm.
Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và kịp thời của thông tin, từ đó hỗ trợ công tác quản lý thời tiết và ứng phó với các tình huống khẩn cấp liên quan đến không khí lạnh và các yếu tố thời tiết khác.
Dựa trên yêu cầu thực tế và theo quy định pháp luật, tổ chức và cá nhân không thuộc hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quốc gia có quyền tự quy định nội dung bản tin để đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm và nhu cầu cụ thể của họ. Dưới đây là một số chi tiết cần xem xét và áp dụng:
- Xác định đặc điểm cụ thể: Đối với tổ chức và cá nhân, việc xác định đặc điểm cụ thể của khu vực hoặc ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động là quan trọng. Điều này bao gồm cả đặc điểm địa lý, đặc thù thời tiết, và yêu cầu cụ thể của người sử dụng thông tin.
- Đồng thuận và thảo luận: Quy trình tự quy định nội dung bản tin nên được thực hiện thông qua sự đồng thuận và thảo luận giữa tổ chức hoặc cá nhân đó và cơ quan quản lý thời tiết liên quan. Điều này đảm bảo tính chính xác và đáp ứng đúng nhu cầu.
- Đánh giá nhu cầu người sử dụng: Tổ chức hoặc cá nhân nên tiến hành đánh giá về nhu cầu của người sử dụng thông tin để đảm bảo rằng nội dung bản tin cung cấp đủ thông tin và hỗ trợ cho mục đích cụ thể của họ.
- Chọn lọc thông tin chính: Tự quy định nội dung bản tin nên tập trung vào thông tin quan trọng và cần thiết nhất đối với người sử dụng. Điều này bao gồm cả những yếu tố thời tiết có thể ảnh hưởng đến hoạt động của họ.
- Cập nhật và thay đổi linh hoạt: Quy trình tự quy định nên được thiết kế để có khả năng cập nhật và thay đổi linh hoạt theo thời gian, đặc biệt là khi có sự thay đổi trong nhu cầu của người sử dụng hoặc trong điều kiện thời tiết.
- Bảo đảm tính chính xác: Tổ chức hoặc cá nhân cần xác định cách để bảo đảm tính chuẩn xác của thông tin cung cấp, có thể thông qua việc sử dụng các nguồn dữ liệu đáng tin cậy và quy trình đánh giá chất lượng.
- Thông tin liên quan đến an toàn: Nếu có yêu cầu về an toàn, nên bao gồm thông tin liên quan đến rủi ro thời tiết và biện pháp an toàn cần được thực hiện để giảm thiểu nguy cơ.
- Thời gian cập nhật: Xác định thời gian cập nhật thông tin để đảm bảo rằng người sử dụng nhận được thông tin mới nhất và có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa kịp thời.
Tổ chức và cá nhân nên thực hiện những bước trên để đảm bảo rằng nội dung bản tin không chỉ đáp ứng nhu cầu cụ thể của họ mà còn giữ được tính chính xác và tin cậy trong việc cung cấp thông tin thời tiết.
3. Tối thiểu mỗi ngày bao nhiêu bản tin dự báo, cảnh báo không khí lạnh?
Theo Điều 18 của Thông tư 25/2022/TT-BTNMT, quy định về tần suất và thời gian ban hành bản tin liên quan đến không khí lạnh, rét đậm, rét hại, băng giá, sương muối được thực hiện như sau:
Hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn Quốc gia:
- Bản tin dự báo, cảnh báo rét hại, sương muối: Ban hành với tần suất và thời gian theo quy định tại khoản 2 Điều 25 của Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg. Tần suất và thời gian này sẽ phản ánh sự thay đổi trong tình hình thời tiết và đưa ra cảnh báo về rét hại và sương muối một cách kịp thời.
- Bản tin dự báo, cảnh báo không khí lạnh, rét đậm, băng giá: Ban hành bản tin đầu tiên khi phát hiện khả năng xuất hiện không khí lạnh, rét đậm, băng giá trong khu vực cảnh báo và dự báo. Các bản tin tiếp theo được ban hành mỗi ngày theo tần suất như sau:
+ Lúc 03 giờ 30.
+ Lúc 09 giờ 30.
+ Lúc 15 giờ 30.
+ Lúc 21 giờ 30.
Tổ chức và cá nhân không thuộc hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quốc gia có trách nhiệm quy định tần suất và thời gian ban hành bản tin theo yêu cầu thực tế của khu vực hoặc ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động. Quy định này giúp đảm bảo tính linh hoạt và sự đáp ứng chính xác đối với nhu cầu cụ thể của từng tổ chức và cá nhân.
Tất cả các quy định này nhằm mục đích cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về tình hình thời tiết, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của không khí lạnh và các yếu tố thời tiết lạnh khác, nhằm hỗ trợ quá trình quản lý rủi ro và ứng phó với các tình huống thời tiết khẩn cấp.
Xem thêm: Đánh giá hiện trang, nguyên nhân, tác động ô nhiễm không khí tại Hà Nội, đề xuất các giải pháp
Liên hệ qua 1900.6162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn