. Ngày 08/6/2016 công ty tôi có thông báo về nội dung: 1. Thông báo đến ngày 15/6/2016 người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và gặp người sử dụng lao động để được tiếp tục bố trí công việc; 2. Công ty không chấp nhận đơn xin nghỉ việc của người lao động. Ngày 17/6/2016 công ty nhận được đơn xin thôi việc của người lao động gửi qua đường bưu điện. Vậy, công ty chúng tôi phải xử lý trường hợp này như thế nào (chúng tôi muốn đồng ý cho người lao động thôi việc - không muốn sự việc phức tạp). Kính mong luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp giúp tôi. Xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

 

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Lao động trực tuyến, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Lao động năm 2012

Nghị định 05/2015/NĐ - CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động

>> Xem thêm:  Người lao động bị tạm giam có được coi là lý do để công ty chấm dứt hợp đồng lao động ?

2. Luật sư tư vấn:

Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: "Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Người lao động bị kết án tù giam thì công ty có quyền chấm dứt hợp đồng lao động không?

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã."

Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: "Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc."

Người lao động có làm đơn xin thôi việc, nếu công ty bạn đồng ý thì hợp đồng lao động giữa công ty và người lao động chấm dứt theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 và theo quy định tai Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012, công ty phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: hình thức kỷ luật sa thải được áp dụng trong trường hợp sau: " Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

Theo như bạn cung cấp thông tin, người lao động bị ốm đau xin nghỉ việc đi điều trị bệnh từ 15/5/2016-14/6/2016 (xin đi điều trị bênh tại Hà Nội). Ngày 07/6/2016 công ty nhận được đơn xin nghỉ việc tự túc không hưởng lương để đi điều trị bệnh của người lao động gửi qua đường bưu điện (người lao động vào miền Nam làm việc, còn có đi chữa bệnh hay không công ty không rõ, người lao động cũng không có giấy tờ chứng minh đi chữa bệnh gửi về). Ngày 08/6/2016 công ty tôi có thông báo về nội dung: 1. Thông báo đến ngày 15/6/2016 người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và gặp người sử dụng lao động để được tiếp tục bố trí công việc; 2. Công ty không chấp nhận đơn xin nghỉ việc của người lao động. Người lao động xin nghỉ việc không lương để đi khám bệnh nhưng lại không có giấy tờ chứng minh việc đi chữa bệnh, hơn nữa, công ty sau khi nhận được đơn xin nghỉ việc có thông báo việc không chấp nhận đơn nhưng công ty không nhận được phản hồi của người lao động. Do đó, nếu công ty bạn yêu cầu người lao động chứng minh việc đi khám bệnh mà người lao động không chứng minh được thì công ty bạn có quyền sa thải người lao động do tự ý bỏ việc quá thời hạn. Nếu công ty bạn có căn cứ để sa thải người lao động thì công ty bạn không cần phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. 

Tuy nhiên, công ty bạn phải thực hiện đúng thủ tục sa thải người lao động theo quy định tại Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ - CP:" Trình tự xử lý kỷ luật lao động

>> Xem thêm:  Thông báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Trình tự xử lý kỷ luật lao động tại Điều 123 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động gửi thông báo bằng văn bản về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, người lao động, cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật của người lao động dưới 18 tuổi ít nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cuộc họp.

2. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động.

3. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản và được thông qua các thành viên tham dự trước khi kết thúc cuộc họp. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham dự cuộc họp quy định tại Khoản 1 Điều này và người lập biên bản. Trường hợp một trong các thành phần đã tham dự cuộc họp mà không ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do.

4. Người giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 3 Nghị định này là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động. Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động chỉ có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao độngtheo hình thức khiển trách.

5. Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được ban hành trong thời hạn của thời hiệu xử lý kỷ luật lao động hoặc thời hạn kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động theo Điều 124 của Bộ luật Lao động, Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được gửi đến các thành phần tham dự phiên họp xử lý kỷ luật lao động."

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Có thể cho người lao động thôi việc không? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chấm dứt hợp đồng lao động: Thôi việc hay viết đơn nghỉ việc ?

>> Xem thêm:  Nghỉ không hưởng lương rồi tiến tới nghỉ hẳn việc có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?