- Ý kiến trên là sai. Bởi vì:

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác.

Hành vi sử dụng mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản: Là hành vi sử dụng máy tính để truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc các hành vi khác thông qua mạng máy tính nhằm chiếm đoạt tài sản.

Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trưởng hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốh, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;

đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, người sử dụng mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) mà không phải là tội trộm cắp tài sản.