1. Con có được bán tài sản thừa kế theo di chúc hay không?

Thưa luật sư, Tôi có người chị gái, trước khi mất chị có viết di chúc để lại toàn bộ tài sản là căn nhà cho hai người con. (chị còn bố, mẹ đẻ và chồng). Tuy nhiên vì con khi đó mới 13 tuổi nên các cháu không bán được; nay các cháu đã trên 18 tuổi vậy các cháu có bán được không? Tôi có hỏi công chứng viên, thì họ trả lời không được, vì phải có bố cháu đồng ý thì mới bán được, như vậy có đúng không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì về nguyên tắc khi người chết có có di chúc để lại tài sản cho ai thì người đó sẽ có quyền được xác lập quyền sở hữu với tài sản.

Tuy nhiên, với một số đối tượng thì ngay cả khi di chúc không chỉ định họ là người thừa kế, thì họ cũng vẫn được hưởng di sản thừa kế- pháp luật gọi những người này là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Đối chiếu quy định trên có thể thấy: cha, mẹ, vợ, chồng là những người thuộc đối tượng người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; vì thế căn nhà này đương nhiên không thuộc quyền sở hữu của riêng hai người con; mà bố, mẹ và chồng của chị gái đã mất cũng có quyền được hưởng thừa kế.

Và bố các cháu chỉ không được hưởng di sản thừa kế khi anh ấy từ chối nhận, hoặc không có quyền hưởng di sản thừa kế (điều 621)

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Chính vì thế, ngay cả khi các cháu đã đủ năng lực hành vi dân sự thì các cháu cũng chưa thể bán căn nhà này được, mà vẫn cần có sự đồng ý, thống nhất của những người thừa kế.

Do đó, để đảm bảo hợp đồng mua bán nhà ở hợp pháp theo chúng tôi, chị có thể giải thích cho những người thừa kế cùng biết để cùng thống nhất cách giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật Minh Khuê về vướng mắc của khách hàng; trường hợp khách hàng còn gặp khó khăn có thể liên hệ cho chúng tôi theo tổng đài: 1900.6162 để được tư vấn chuyên sâu. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Cách phân chia tài sản thừa kế khi không có di chúc ?

Tài sản thừa kế sẽ được ưu tiên chia theo di chúc của người để lại di sản, khi không có di chúc tài sản sẽ được chia theo quy định của luật dân sự về thừa kế:

Luật sư phân tích:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố tôi tên S, lúc trẻ ông lấy 1 người vợ đầu và có được 2 người con gái, sau đó họ li dị và 1 năm sau bố tôi lấy vợ 2 (mẹ tôi) và có với nhau 2 người con trai ). năm 2011 người vợ đầu của bố tôi mất , tháng 4 năm 2016 bố tôi đột ngột qua đời vì bạo bệnh mà không kịp viết di chúc. trong hoàn cảnh này thì tài sản sẽ được xử lý như thế nào là đúng pháp luật?

=> Di sản của bố bạn lúc này sẽ được chia đều cho 2 người con gái với vợ cũ, mẹ bạn bây giờ và 2 người con trai.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông nội tôi mất năm 1996, ông có 9 người con mình Bố tôi là con trai, Bác cả và bố tôi cũng đã mất. khi chết ông tôi có 02 sào ruộng cấy cùng chung hộ với gia đình tôi, khi chết ông cũng không để lại di chúc cho ai cả, nay các bác và các cô tôi muốn chuyển nhượng cho tôi là cháu trưởng (đích tôn) của ông thì tôi phải làm thế nào để chuyển ruộng tên Ông nội tôi sang tên của tôi?

=> Bạn thỏa thuận với những người thừa kế còn lại làm văn bản từ chối nhận di sản thừa kế hoặc văn bản ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông A và Bà B kết hôn năm 1985,có hai con là chị C ( 1985 ) và chị D (1989). Ngày 2/7/2000,ông A cùng con là chị D đi thăm bà con, trên đường đi bị tai nạn giao thông khiến cho ông A tử vong và chị D bị liệt nửa người, không còn khả năng lao động. Ông A và bà B có tài sản chung là ngôi nhà trị giá 1.000.000.000đ ( một tỷ đồng ), góp 200.000.000 ( hai trăm triệu đồng) mở cửa hàng với ông E ( anh ruột ông A). Ngoài ra,ông A còn có tài sản riêng là một sổ tiết kiệm 300.000.000 (ba trăm triệu đồng ). Ông A đã lập di chúc để lại di sản cho bà B ngôi nhà, chị C sổ tiết kiệm và chị D phần vốn góp với ông E. Vậy Luật Sư chia giúp di sản thừa kế của ông A trong tình huống trên.

=> Trường hợp này tài sản riêng của A là 1/2 ngôi nhà là 500.000.000, 1/2 vốn mở cửa hàng là 100.000.000, tài sản riêng là 300.000.000.

Năm 2000 A chết thì cả C và D đều chưa thành niên. Vậy B, C, D sẽ được ít nhất 2/3 suất thừa kế là 2/3 x ((500 + 100 + 300) : 3) = 200 triệu đồng.

Vậy Theo di chúc phần di sản chia cho B, C D đều đáp ứng đủ điều kiện nên sẽ chia theo di chúc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhà tôi hiện tại là nhà thừa kế, ba tôi hiện tại đang đứng tên là người đại diện, nay ba tôi muốn chuyển sang người đứng tên chính thức ngôi nhà. Ngoài ba tôi ra còn 4 người khác cùng đứng tên sở hữu: 1. Cậu tôi đã mất, trong hồ sơ nhà ba tôi lúc trước có khai cậu tôi có 1 người con trai hiện tại đang sống bên Mỹ. Nhưng đã trên 30 năm nay cả gia đình cũng như bà con tôi không ai liên lạc được với người này. 2. Cô tôi mất, có người dượng (chồng của cô tôi) hiện tại đang bị tâm thần, người dượng này có 2 người con 3,4. Cô chú còn lại của tôi vẫn còn khỏe mạnh và đồng ý kí vào giấy cho ba tôi đứng tên sở hữu chính thức ngôi nhà. Luật sư cho hỏi trường hợp của ba tôi nay muốn chuyển sang sở hữu chính thức thì trường hợp 1 và 2 phải giải quyết như thế nào, và thủ tục như thế nào?

=> Ba bạn có thể thỏa thuận với những người thừa kế kế vị của cậu và cô bạn cùng với cô chú còn lại để làm văn bản từ chối nhận di sản hoặc thảo thuận phân chia di sản thừa kế cho ba bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ chúng tôi sinh được 4 người con, có 2 trai và 2 gái. Hiện nay anh em chúng tôi đã có gia đình và ở riêng không ở cùng bố mẹ. Bố mẹ chúng tôi sống với nhau trên căn nhà và mảnh đất do ông bà tạo dựng trước đây. Thời gian vừa qua do mắc bệnh hiểm nghèo nên cả hai ông bà đã mất, nhưng chưa kịp làm giấy tờ chia thừa kế cho các con. Vậy tôi nhờ Công ty tư vấn giúp cho anh em chúng tôi các thủ tục pháp lý phải làm để có thể chia và hưởng phần thừa kế tài sản mà cha mẹ để lại.

=> Bạn cùng những người thừa kế có thể làm văn bản thảo thuận phân chia di sản thừa kế tại văn phòng công chứng của UBND xã. Nếu không thể thỏa thuận được thì bạn làm đơn gửi lên Tòa án yêu cầu phân chia di sản theo pháp luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi đang sống hạnh phúc, không may mẹ tôi lâm bệnh hiểm nghèo rồi qua đời. Sau khi mẹ tôi mất 1 thời gian thì bố tôi có đi bước nữa. Một thời gian sau thì bố tôi có nhập khẩu cho người vợ lẽ đó. Cho tôi hỏi, sau này tài sản của bố mẹ tôi để lại anh em tôi có được hưởng không và được hưởng bao nhiêu. Còn người kia có quyền được thừa kế không?

=> Tại thời điểm mẹ bạn chết thì tài sản riêng của mẹ bạn và phần tài sản của mẹ trong khối tài sản chung với bố bạn sẽ được chia đều cho anh em bạn và bố bạn. Sau này khi bố bạn mất thì tài sản của bố sẽ được chia đều cho anh em bạn và người vợ thứ 2 của bố.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 5 người con ( 01 trai, 04 gái), sử dụng một thửa đất từ những năm 1954. Bố tôi mất năm 1968, khi cụ mất không để lại di chúc. Năm 2004, trong khi tôi đi vắng, mẹ và các anh chị em tôi đã thống nhất chuyển mảnh đất trên cho vợ chồng chị gái tôi (trong hồ sơ cấp GCN cho vợ chồng chị gái tôi có xác nhận của mẹ tôi, của UBND xã), UBND huyện cấp GCN cho vợ chồng chị gái tôi năm 2004. Mẹ tôi mất năm 2013. Tôi xin hỏi, việc cấp GCN như trên của UBND huyện có đúng quy định không (có đảm bảo quy định về thừa kế không, hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà tôi không yêu cầu chia di sản thì còn quyền lợi gì không)? Tôi muốn đòi quyền lợi của mình ở phần di sản đất của bố tôi có được không?

=> Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Thì bố bạn mất năm 1968, đến năm 2004 đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản nên mẹ và các anh chị em bạn đã thống nhất chuyển mảnh đất trên cho vợ chồng chị gái bạn là hoàn toàn đúng luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và mẹ tôi được phân 1 căn nhà đứng tên sử dụng đất. trước đó, bố mẹ tôi kết hôn không có đăng kí. khi sinh ra tôi, bố tôi lấy người khác có đăng kí. nay mẹ tôi mất, và nếu bố tôi mất thì tài sản đó tôi có được hưởng theo pháp luật không?

=> Tài sản đó sẽ được chia đều cho bạn và người vợ kết hôn có đăng ký.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Một số vấn đề về thừa kế tài sản gửi ngân hàng ?

Trong thời gian qua, có nhiều trường hợp cá nhân gửi tiền, vàng, kim khí quý, đá quý tại ngân hàng hoặc sở hữu giấy tờ có giá do ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động tiền gửi, vốn (gọi chung là tiền gửi tại ngân hàng) qua đời. Từ đó phát sinh vấn đề về thừa kế những tài sản này, xác định ai là người được hưởng di sản, phần di sản được hưởng của mỗi người, pháp luật quy định áp dụng trong trường hợp này ra sao?

Đặc biệt, rất phức tạp đối với những trường hợp có yếu tố nước ngoài (Ví dụ: Người để lại di sản là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.v.v..) Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trao đổi về một số tình huống xảy ra trong thực tế và hướng giải quyết.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

1. Tổ chức tín dụng (TCTD) thanh toán trao trả tiền gửi cho những người được hưởng di sản dựa trên văn bản nào?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc thanh toán và phân chia di sản của người chết có thể được thực hiện tại Phòng Công chứng, Phòng Tư pháp, cơ quan ngoại giao được thực hiện việc công chứng, chứng thực trên cơ sở có yêu cầu của những người thừa kế. Ngoài ra, cơ quan toà án các cấp cũng là người tiến hành thanh toán và phân chia di sản trên cơ sở có đơn khởi kiện về thừa kế của người có quyền thừa kế, của người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng có thể dựa vào những văn bản về việc thanh toán, phân chia di sản đã được công chứng, chứng thực đúng thẩm quyền hoặc dựa vào bản án, quyết định có hiệu lực của toà án để tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người được hưởng di sản thừa kế.

Ngoài ra, những người thừa kế cũng có thể tự tiến hành thanh toán và phân chia di sản mà mình được hưởng và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc này. Trong trường hợp di chúc chỉ định người có trách nhiệm công bố di chúc và phân chia di sản thì văn bản thanh toán và phân chia di sản trong trường hợp này đòi hỏi phải có chữ ký của người được chỉ định trong di chúc. Tuy nhiên, giá trị pháp lý của văn bản này về mặt thi hành và chứng cứ không cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với TCTD khi TCTD tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người được thừa kế.

Theo quy định của Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng không có chức năng thanh toán và phân chia di sản, kể cả trong trường hợp những người thừa kế nhất trí cao và cùng tiến hành thực hiện mọi thủ tục nhận di sản là tiền gửi ngay tại ngân hàng. Trong trường hợp người để lại di sản qua đời thì ngân hàng cũng không thể căn cứ các quy định của pháp luật về nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nguyên tắc sở hữu tài sản chung của vợ chồng để giao lại một phần tài sản gửi tại ngân hàng cho vợ hoặc chồng của người chết. Việc chia tài sản chung của vợ chồng, thanh toán và phân chia di sản phải được thực hiện theo quy định của pháp luật mà cụ thể là cơ quan toà án tiến hành trên cơ sở đơn yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đơn khởi kiện về thừa kế của người thừa kế hoặc theo yêu cầu của những người thừa kế khi tiến hành thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền công chứng. Như vậy, để đảm bảo an toàn pháp lý, TCTD chỉ có thể tiến hành thanh toán và giao lại tài sản của người chết trên cơ sở một văn bản pháp lý có hiệu lực thi hành của những cơ quan có thẩm quyền tiến hành.

2. Xác định di sản mà người chết để lại

Hầu hết pháp luật các nước đều quy định di sản mà người chết để lại là những tài sản, quyền tài sản… thuộc quyền sở hữu của họ, bao gồm:

- Tài sản thuộc sở hữu riêng của họ.

- Phần tài sản của họ trong khối tài sản chung với người khác, có thể là sở hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần.

- Các quyền tài sản .v.v.

Trong trường hợp họ có tài sản chung với người khác thì cũng cần phải phân định phần tài sản của họ trong khối tài sản chung đó (Điều 634, Bộ Luật Dân sự (BLDS) năm 2005). Việc xác định phần tài sản của họ trong khối tài sản chung có thể dựa trên những thoả thuận đã có từ trước hoặc căn cứ theo văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Ví dụ: Theo pháp luật của Việt Nam, ngoại trừ việc vợ chồng tự thoả thuận tài sản riêng và tài sản chung thì toà án là cơ quan có quyền tiến hành phân định phần tài sản của vợ và chồng trong khối tài sản chung hợp nhất trên cơ sở có yêu cầu của họ (Điều 29, Luật Hôn nhân và gia đình).

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 27, Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân…. Một điểm cần lưu ý là đối với những tài sản mà họ có trước thời kỳ hôn nhân chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Điều 95, Luật Hôn nhân gia đình công nhận về mặt nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi nhưng có những lý do mà toà án có thể quyết định không nhất thiết phải chia đôi, ví dụ: Hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập tài sản, duy trì, phát triển tài sản.

Như vậy, về mặt nguyên tắc thì tài sản sẽ được chia đôi khi vợ và chồng ly hôn, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Mặt khác cũng cần lưu ý, kể cả trong trường hợp có thể chia đôi thì phía ngân hàng cũng không thể đơn phương quyết định và giao lại một phần tài sản của người đã chết đang gửi tại ngân hàng cho người vợ hoặc chồng của họ mà phải dựa trên cơ sở văn bản pháp lý mà vợ chồng họ đã thoả thuận hoặc bản di chúc của người để lại di sản. Nếu không có những văn bản này, ngân hàng chỉ còn có thể chờ đợi quyết định của toà án hoặc bản thoả thuận của toàn bộ những người được hưởng di sản.

Như vậy, trong trường hợp người để lại di sản chết mà họ có tồn tại quan hệ hôn nhân với người khác thì cần phải xác định rất rõ di sản mà họ để lại là gì? Nếu tiền gửi của họ tại ngân hàng có trước khi họ kết hôn và vợ chồng không thoả thuận đây là tài sản chung thì phần di sản này hoàn toàn thuộc về người để lại di sản. Ngược lại, nếu số tiền đó có sau khi kết hôn thì cần phải coi đây là tài sản chung và lúc đó cần phải có cơ quan đứng ra tiến hành việc phân định khối tài sản chung này. Từ đó, xác định được di sản mà người chết để lại.

Thứ nhất, trong trường hợp người để lại di sản có di chúc để lại

- Người để lại di sản mang quốc tịch của Việt Nam: Theo quy định của BLDS năm 2005, nếu người để lại di sản là người Việt Nam thì toàn bộ vấn đề về thừa kế di sản của họ được áp dụng luật pháp của Việt Nam để giải quyết (Trừ trường hợp di sản để lại là bất động sản ở nước ngoài tại thời điểm mở thừa kế). Do vậy, việc xác định hình thức, nội dung và tính hợp pháp của di chúc cũng như các thủ tục công bố di chúc, thanh toán và phân chia di sản được thực hiện hoàn toàn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Có thể xảy ra một số tình huống sau:

+ Di chúc được lập và đã được công chứng, chứng thực theo đúng các quy định pháp luật. Nếu trong di chúc có chỉ định người có trách nhiệm tiến hành công bố di chúc và thực hiện việc phân chia di sản thì họ có trách nhiệm thực hiện việc công bố di chúc và thanh toán, phân chia di sản. Nếu di chúc không chỉ ra người thực hiện việc này thì chính những người thừa kế theo nội dung của di chúc thoả thuận cử người làm việc này hoặc họ tự thoả thuận và lập văn bản thoả thuận phân chia di sản theo nội dung của di chúc tại Phòng Công chứng, Phòng tư pháp hoặc cơ quan ngoại giao có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Như vậy, căn cứ vào nội dung của di chúc và để đảm bảo an toàn pháp lý cho ngân hàng khi tiến hành giao lại di sản của người chết (khách hàng gửi tiền tại ngân hàng), ngân hàng có thể yêu cầu những người thừa kế tiến hành những công việc thanh toán và phân chia di sản theo nội dung của bản di chúc tại cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Văn bản được công chứng có giá trị thi hành (Điều 14, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP). Ngoài ra, theo quy định của Điều 80, Bộ luật Tố tụng dân sự thì những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh nên ngân hàng có thể tin cậy và tiến hành việc giao lại tài sản cho những người thừa kế theo nội dung văn bản thoả thuận phân chia di sản do những người được thừa kế đã lập và bản sao di chúc được cấp cho những người thừa kế.

+ Trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp hoặc rơi vào những trường hợp phải tiến hành thanh toán và phân chia di sản theo quy định của pháp luật thì lúc này, ngân hàng có thể yêu cầu những người thừa kế tiến hành thoả thuận phân chia di sản tại Phòng Công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực văn bản thoả thuận phân chia di sản. Dựa trên văn bản do những người thừa kế lập và được các cơ quan này chứng nhận, chứng thực thì ngân hàng cũng có thể tiến hành giao lại tài sản cho những người thừa kế.

+ Trong trường hợp có người thừa kế khởi kiện về quyền thừa kế và thanh toán phân chia di sản tại toà án thì ngân hàng yêu cầu những người thừa kế phải thực hiện theo đúng các thủ tục tố tụng dân sự tại toà và chờ bản án, quyết định có hiệu pháp luật của toà án. Trong thực tế không hiếm những trường hợp như vậy, kể cả trong trường hợp có di chúc hoặc những người thừa kế thống nhất rất cao về việc thanh toán và phân chia di sản. Nhiều trường hợp Phòng Công chứng thực hiện việc chứng nhận thoả thuận phân chia di sản theo yêu cầu của những người thừa kế, nhưng qua kiểm tra, xác minh nhân thân cũng như thực hiện việc niêm yết công khai đã phát hiện thêm người thừa kế mới, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế. Lúc này, những người thừa kế mới, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến di sản thường sẽ chọn cách giải quyết là khởi kiện tại toà án để giải quyết theo quy định của pháp luật. Khi đó, quyết định hoặc bản án có hiệu lực thi hành của toà án sẽ là căn cứ để NHTM tiến hành giao lại tài sản của người chết cho người được thừa kế.

- Trong trường hợp người để lại di sản là người nước ngoài (Không mang quốc tịch Việt Nam tại thời điểm mở thừa kế) thì pháp luật được áp dụng trong trường hợp này không hoàn toàn là pháp luật của Việt Nam (Điều 767, BLDS năm 2005). Toàn bộ các vấn đề về thừa kế, hàng thừa kế, điều kiện có hiệu lực của di chúc, thanh toán và phân chia di sản v.v. đều được thực hiện theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch, chỉ trừ trường hợp nếu người để lại di sản lập di chúc tại Việt Nam thì bản di chúc đó phải tuân thủ điều kiện về hình thức của di chúc theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 768 của BLDS 2005) hoặc trong trường hợp pháp luật của nước đó dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của Việt Nam thì khi đó, pháp luật của Việt Nam sẽ được áp dụng. Trong trường hợp này, những người được hưởng di sản phải xuất trình cho ngân hàng các văn bản, giấy tờ về việc thanh toán, phân chia di sản được lập theo quy định của pháp luật của nước mà người để lại di sản mang quốc tịch theo nội dung của di chúc. Để đảm bảo an toàn pháp lý trong trường hợp này, tốt nhất ngân hàng nên yêu cầu những văn bản đó phải được hợp pháp hoá lãnh sự và được dịch sang tiếng Việt, có công chứng. Ngân hàng có thể tiến hành công tác xác minh con dấu, chữ ký của cơ quan nước ngoài tại Cục Lãnh sự ngoại giao – Bộ Ngoại giao của Việt Nam. Căn cứ vào những văn bản nói trên, ngân hàng có thể tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người thừa kế.

Thứ hai, trong trường hợp người để lại di sản không có di chúc

- Người để lại di sản là người Việt Nam:

Trong trường hợp này, áp dụng theo pháp luật của Việt Nam, những người thừa kế buộc phải tiến hành việc thoả thuận phân chia di sản tại cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại toà án để xác định phần di sản và nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi người. Ngân hàng có thể căn cứ vào những văn bản này để tiến hành giao lại tài sản của người chết cho những người thừa kế.

- Trong trường hợp người để lại di sản là người nước ngoài (không mang quốc tịch Việt Nam):

+ Nếu người để lại di sản không tồn tại quan hệ hôn nhân tại thời điểm mở thừa kế.

Theo quy định của Điều 767, BLDS thì việc xác định hàng thừa kế, người được hưởng di sản, phần được hưởng của mỗi người, luật áp dụng hoàn toàn tuân thủ theo các quy định của pháp luật của nước mà người để lại di sản mang quốc tịch. Ngân hàng chỉ có thể yêu cầu những người thừa kế tiến hành việc thanh toán và phân chia di sản theo pháp luật của nước đó mà thôi. Trên cơ sở các văn bản mà họ cung cấp và ngân hàng kiểm tra xác minh tính hợp pháp của các văn bản này thì có thể tiến hành giao tài sản của người chết cho những người thừa kế.

+ Trong trường hợp tại thời điểm phân chia di sản mà họ tồn tại quan hệ hôn nhân với người mang quốc tịch Việt Nam thì trong trường hợp này, cần xem xét các yếu tố khác như nguồn gốc tài sản, thời điểm kết hôn, luật được các bên lựa chọn khi tiến hành đăng ký kết hôn, giữa họ có tồn tại thoả thuận chia tài sản chung hay không hay có thoả thuận nào khác về tài sản hay không? Vì rất nhiều quốc gia không có chế định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong khi đó, người để lại di sản lại không mang quốc tịch Việt Nam.

Lúc này, cần xác định được di sản thừa kế là gì? Nếu di sản để lại được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì người vợ hoặc chồng của người đã chết có thể yêu cầu toà án tiến hành phân định phần tài sản mà họ được hưởng trong khối tài sản chung (nếu có) trước khi tiến hành các thủ tục về thừa kế di sản. Bởi như đã nói, trong vấn đề thừa kế, có hai vấn đề cần xác định: Di sản để lại là gì? Luật được áp dụng trong trường hợp họ không mang quốc tịch Việt Nam từ đó mới có thể xác định được hàng thừa kế, các thủ tục cần thiết khi tiến hành thanh toán và phân chia di sản.

Như vậy, để đảm bảo an toàn pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thừa kế, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và cũng để tránh những rủi ro cho ngân hàng về mặt pháp lý. Khi xử lý vấn đề và tài sản của người chết hiện đang gửi tại các ngân hàng cần phải xem xét rất kỹ yếu tố quốc tịch của người để lại di sản. Mặt khác, ngân hàng cũng không thể theo yêu cầu của một phía vợ hoặc chồng để giao lại một phần tài sản của người đã chết với lý do họ đang tồn tại quan hệ hôn nhân tại thời điểm mở thừa kế, ngân hàng cũng không thể dựa vào sự thoả thuận của những người thừa kế (kể cả trong trường hợp có di chúc và di chúc chỉ định rất rõ người được hưởng di sản, phần di sản họ được hưởng) để giao lại tài sản cho những người thừa kế. Mặt khác, còn có thể phát sinh những nghĩa vụ mà người chết để lại và theo quy định pháp luật của hầu hết các nước cũng như luật của Việt Nam thì trước khi di sản được đem chia cho những người thừa kế, khối di sản này phải thanh toán cho những nghĩa vụ mà người chết để lại trước (Điều 683, BLDS 2005). Những người thừa kế chỉ được hưởng di sản trong phần tài sản còn lại mà thôi.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Tổng đài tư vấn luật: 1900.6162, Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Con có thể đại diện cho bố mẹ khởi kiện đòi thừa kế không ?

Thưa luật sư, ông bà nội cháu mất đã lâu, khi đó, ông bà không để lại di chúc. Mảnh đất ông bà để lại rất lớn. Tất cả gia đình các con của ông bà đều sinh sống và làm nhà trên mảnh đất đó trong đó có cả gia đình cháu.

Mảnh đất đó bị các hộ dân lân cận chiếm và đã tranh chấp rất nhiều, mảnh đất ông bà nội để lại chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có hồ sơ gốc nguồn gốc đất mà bác thứ 8 cháu đang giữ. Sau thời gian tranh chấp thì họ lại thoả thuận với gia đình các cô, chú, bác cháu bán lại mảnh đất tranh chấp cho họ, mà không có hỏi qua ý kiến của cha cháu và cũng không cần cha cháu ký tên vào giấy tờ bán. Vậy cho cháu hỏi:

1/ Ông bà nội mất không để lại di chúc thì cô chú bác cháu và cha cháu được quyền thừa kế theo pháp luật hàng thừa kế thứ nhất là chia đều di sản để lại là mảnh đất đó. Và khi mảnh đất đó muốn được bán đi thì phải xin ý kiến của tất cả cô chú bác và cha cháu thì mới hợp pháp đúng không? (Vì di sản chưa chia khi ông bà mất, chỉ con cái của ông bà ai muốn làm nhà thì làm, và thật sự gia đình cháu bức xúc là đất bán đi mà mình không được hỏi ý kiến, giống như mặc định là không có quyền trong khối di sản đó vậy, chẳng xem cha mẹ cháu ra gì).

2/ Vậy cha cháu hoàn toàn có một phần quyền thừa kế trong khối tài sản đó đúng không? Nếu đất hiện tại đang tranh chấp (tranh chấp với các hộ lân cận, chưa có giấy tờ chính thức), thì cha cháu muốn yêu cầu tạm dừng việc bán đất đi hoặc bán đi phải hỏi ý kiến của tất cả người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất (trong đó có cha cháu) thì phải khởi kiện bằng đơn gửi ở đâu? (Cháu không hiểu sao đất chưa có giấy tờ, còn tranh chấp, thiếu chữ ký của cha cháu nữa mà vẫn bán được và làm giấy chính quyền vẫn xác nhận cho bán).

3/ Cô, chú, bác cháu người nào cũng có một phần rộng lớn để làm nhà nhưng gia đình cháu không ý kiến gì vì tình nghĩa anh em bà con thân thuộc, nhưng khi họ làm nhà hoàn chỉnh lại nói ngược lại là gia đình cháu cũng ký tên đồng ý cho, thái độ khinh bỉ rất là khó chịu, chẳng tôn trọng gia đình cháu, thật sự cha mẹ cháu chẳng ký tên xác nhận là cho bao giờ. Cô chú bác của cháu nói là họ lớn, họ có quyền quyết định tài sản ông bà để lại, cháu chắc chắn biết điều đó là sai. Cha mẹ cháu lo cơm áo gạo tiền, ít chữ, nên cho cháu hỏi có thể uỷ quyền cho cháu (cháu sinh năm 1992) được đi đứng trong việc tranh chấp yêu cầu việc chia thừa kế đúng đắn, tôn trọng gia đình cháu bằng cách khi muốn bán hay làm gì đó trên mảnh đất ông bà phải hỏi ý kiến gia đình cháu được không?

Cháu xin cảm ơn!

Người gửi: tieuti...

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi:1900.6162

Trả lời:

Do các con của ông bà bạn đã làm nhà và sinh sống trên mảnh đất là di sản thừa kế, vì vậy, trong trường hợp này, người quản lý di sản thừa kế là tất cả các con của ông bà bạn theo quy định tại khoản 2 Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2005 :

"Điều 638. Người quản lý di sản...

2. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản..."

Như vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 639 BLDS 2005 thì nghĩa vụ của người quản lý di sản được quy định như sau:

"Điều 639. Nghĩa vụ của người quản lý di sản...

2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 638 của Bộ luật này có các nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế."

Theo quy định trên, việc các bác, cô, chú của bạn tự ý bán đất mà không có sự đồng ý của bố bạn là không đúng. Trong trường hợp này, để đảm bảo được lợi ích của mỗi bên, gia đình bạn có thể tự thỏa thuận với gia đình các bác, cô, chú của bạn để tìm ra phương án giải quyết tốt nhất. Nếu không thỏa thuận được, gia đình bạn có thể làm đơn khởi kiện lên Tòa, yêu cầu Tòa chia di sản thừa kế và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn việc bán đất của các bác, cô, chú của bạn.

Về vấn đề đại diện, bố mẹ bạn có thể ủy quyền cho bạn làm đại diện theo ủy quyền để tham gia tranh tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Di chúc hợp pháp và vấn đề tranh chấp tài sản thừa kế ?

Thưa Luật sư! Cháu đang có một số thắc mắc về luật rất mong các cô chú bớt chút thời gian giải đáp cho cháu. Cháu xin trình bày trình tự như sau ạ: - Năm 1989, ông cháu và bố cháu cùng bỏ tiền mua 1 mảnh đất, mỗi người 1 nửa nhưng chưa làm sổ đỏ. - Năm 1991, ông cháu lập di chúc (*) nói là chia cho bố cháu với 1 chú nữa.

- Từ năm 1991 đến năm 1995, bố mẹ cháu đã trả dần 1 nửa còn lại cho ông và được ông cho phép sử dụng toàn bộ mảnh đất. Tuy nhiên ông chỉ truyền đạt cho bố mẹ cháu mà không nói với ai. Sau đó, chú của cháu cũng được ông chia cho 1 tài sản khác.

- Năm 1995, ông cháu làm sổ đỏ đứng tên bố cháu.

- Năm 2008, ông cháu mất.Từ năm 1995 đến khi ông mất, ông không nói gì thêm về mảnh đất này.

- Thời gian gần đây chú cháu có đưa ra bản di chúc và đòi bố cháu 1 nửa mảnh đất.

(*) Về bản di chúc năm 1991 cháu thấy có 1 số điểm chú ý: Tất cả mọi người liên quan xác nhận và có chữ kí nhưng về hình thức thì lại không ghi rõ người thừa kế, chỉ ghi là chia cho 2 anh mảnh đất ở trong, 2 anh mảnh đất ở ngoài (mảnh đất ngoài là mảnh đất tranh chấp đã nêu ở trên). Vậy cháu xin hỏi là: Bản di chúc này có hợp pháp không? Và giải quyết tranh chấp này như thế nào; hiện tại, chú cháu đã gửi đơn ra xã đòi đất ?

Cháu xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162.

Trả lời:

Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định di chúc được coi là hợp pháp nếu:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suất trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

- Hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Hình thức của di chúc có thể là văn bản hoặc di chúc miệng. Điều 658 quy định di chúc bằng văn bản phải do người lập di chúc tự tay viết và ký. Nếu bản di chúc không có người làm chứng thì phải tuân thủ Điều 656, theo đó nội dung di chúc ghi rõ ngày, tháng, năm lập; họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc, người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải đánh số thứ tự có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Như vậy, di chúc của ông bạn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện trên.

Về giải quyết tranh chấp: Thủ tục nộp hồ sơ khởi kiện

Để yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp về tài sản thừa kế thì phải đáp ứng những điều kiện sau :

Thứ nhất là vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện :

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 159 Bộ Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội, sửa đổi bổ sung 2011 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trong trường hợp vụ việc đã quá thời hạn thì đương sự cần lưu ý đến trường thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự hoặc thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại theo Điều 158 và Điều 162 Bộ luật dân sự.

Thứ hai là việc nộp hồ sơ khởi kiện phải đúng thẩm quyền của Tòa án :

Căn cứ Điều 33, Điều 34, Điều 35 thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp Huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu đương sự không ở nước ngoài, tài sản tranh chấp không ở nước ngoài và không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài. Nếu đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài thì đương sự phải yêu cầu Tòa án cấp Tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện.

Thứ ba là hồ sơ khởi kiện phải đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?