1. Đòi chia tài sản thừa kế có di chúc của người đã mất ?

Chào luật sư, e muốn được tư vấn về vấn đề sau: Theo di chúc bà ngoại ( bà có 1 trai 1 gái ) để lại cho con gái 1 lô đất tái định cư ( vì cậu con trái đã có phần rồi ) có trên 3 người làm chứng và có cả chữ ký của cậu con trai .lập vào năm 2007( không có công chứng ) và bà mất cuối năm 2007. Đến 2008 người con gái xây nhà trên lô đất tái định cư vẫn đứng tên của bà ngoại. Đến thời điểm 2015 thì bên dự án làm sổ hồng cho các lô đất tái định cư, và mẹ em nộp đầy đủ bộ hồ sơ nhưng bên dự án lại bắt phải có 1 tờ đơn không tranh chấp của cậu em (cậu mất 2010).
Do biết được sự việc như vậy con trai cậu em đã lên phường tranh chấp miếng đất và đòi chia tài sản. Theo luật sư thì bên gia đình em phải làm sao ?
Mong luật sư tìm giúp e hướng giải quyết cho hoàn cảnh gia đình em . Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn phân chia thừa kế theo luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì di chúc bà ngoại để lại cho con gái 1 lô đất tái định cư có trên 3 người làm chứng và có cả chữ ký của cậu con trai.

Di chúc được coi là hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện theo Điều 630 BLDS 2015:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Như vậy trong trường hợp nêu trên, nếu đáp ứng đủ các điều kiện trên di chúc của bà bạn sẽ được coi là hợp pháp.

Tuy nhiên, nếu tài sản để thừa kế là quyền sử dụng đất thì người lập di chúc bên cạnh việc phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai.

Cụ thể, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) cho phép người sử dụng đất được để lại thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời thửa đất đó cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, người đang sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp và có một trong các giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận):

Như vây, nếu trong trường hợp này nếu bà bạn đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian bà bạn vẫn còn sống thì không thể nói là mảnh đất mà bà bạn để lại cho bạn là có tranh chấp được.

Trong trường hợp này, nếu có tranh chấp xảy ra bạn có thể nhờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Chia thừa kế có di chúc trong gia đình bố mẹ ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Nhà có 2 chị em, bố mẹ ly hôn khi tôi 10 tuổi, còn chị tôi 18 tuổi. Sau khi bố mẹ ly hôn thì tôi và chị ở với mẹ. Còn bố thì ở cái nhà mà bố mẹ tôi còn ở lúc chưa ly hôn. Nhưng gần 10 năm bố mẹ tôi ly hôn thì không may bố tôi mất trước, bố mất để lại di chúc là cái nhà bố đang ở thì mang tên 2 chị em.

Chị tôi đã đi lấy chồng và cả 2 vợ chồng chị có việc làm ổn định. Còn tôi là con trai duy nhất trong nhà mới có 20 tuổi chưa có công việc làm ổn định vẫn phải đi học. Nên luật sư cho tôi hỏi là tôi có thể lấy cái nhà của bố để lại được không? Nếu không lấy được thì chia tài sản như thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: P.T

Chia thừa kế có di chúc trong gia đình bố mẹ ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế tài sản, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, bạn cần phải xác định rõ ràng xem ai là người có quyền hưởng thừa kế di sản của bố bạn để lại. Theo thông tin bạn cung cấp thì sau khi ly hôn, bố bạn ở tại căn nhà của bố mẹ trước khi ly hôn, như vậy chúng tôi sẽ hiểu là căn nhà hiện tại là di sản mà bố bạn để lại. Tuy nhiên, ngoài 2 chị em bạn là con đẻ của bố thì sau khi ly hôn với mẹ bạn, bố bạn có kết hôn cùng với ai hay có con chung với ai hay không. Đó là điều đầu tiên bạn cần xác định bởi dù bố bạn có để lại di chúc căn nhà cho 2 chị em bạn nhưng nếu di chúc đó không hợp pháp thì di sản của bố bạn sẽ được chia theo pháp luật, nghĩa là chia đều cho những người đồng thừa kế hoặc trường hợp di chúc vẫn có hiệu lực nhưng người thừa kế có trường hợp thuộc thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì 2 chị em bạn vẫn không thể hưởng hết căn nhà. Cụ thể Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Việc chúng tôi khuyên bạn xác định chính xác là để tránh việc tranh chấp sau này bởi bạn là một trong những người thừa kế một phần căn nhà của bố bạn, bạn có thể sở hữu ngôi nhà đó, song cần phải có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế (ít nhất là có chị bạn trong trường hợp bố bạn không có người thừa kế nào khác ngoài 2 chị em bạn).

Trường hợp di chúc của bố bạn hợp pháp và không có người thừa kế nào khác thuộc điều 669 BLDS thì 2 chị em có thể tự bàn bạc cách chia, theo luật thì mỗi người sẽ được 1/2 căn nhà. Có người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì người đó sẽ được hưởng di sản theo điều 644 BLDS 2015.

Trường hợp di chúc của bố bạn không hợp pháp: Nếu chị bạn và các đồng thừa kế khác không đồng ý thì các đồng thừa kế có thể thỏa thuận cách chia với nhau, nếu không đồng ý thì có thể khởi kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa giải quyết chia thừa kế. Thời hạn giải quyết là 10 năm kể từ ngày mở di chúc.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến : 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Khi nào có di chúc mà vẫn có thể chia thừa kế theo pháp luật ?

Chào luật sư, cho em hỏi pháp luật quy định như thế nào về người thừa kế ? thời điểm nào thì quyền và nghĩa vụ của người thừa kế có hiệu lực ? Nếu người để lại di sản có di chúc thì có được chia thừa kế theo pháp luật nữa không, trong những trường hợp nào ?
Cảm ơn!

Trường hợp nào có di chúc mà vẫn có thể chia thừa kế theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật Dân sự về chia thừa kế theo di chúc , gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Người thừa kế ? Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế ?

Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế:

"Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế."

Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế:

"Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại."

Thời điểm mở thừa kế được quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015:

"1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này."

Như vậy quyền và nghĩa vụ của người thừa kế sẽ phát sinh vào thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người có tài sản chết.

2. Nếu người có di sản có để lại di chúc thì có được chia thừa kế theo pháp luật không ?

Nếu người có di sản có để lại di chúc thì vẫn có thể chia thừa kế theo pháp luật, cụ thể trong các trường hợp sau:

- Khi di chúc không hợp pháp: Điều 630 Bộ luật Dân sự quy định về di chúc hợp pháp như sau:

"1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

Khi di chúc không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 630 trên thì sẽ bị coi là di chúc không hợp pháp. Di chúc không hợp pháp không có hiệu lực pháp luật, do đó không làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.

- Khi người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản: Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 quy định về những người không được quyền hưởng di sản:

"1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản."

Do đó trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng chia thừa kế theo pháp luật.

- Khi người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản: Phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người khác. Khi người này từ chối hưởng di sản theo di chúc thì họ vẫn có thể ược hưởng thừa kế theo pháp luật.

- Khi những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: Điều này được quy định tại Điều 644 BLDS 2015:

"1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."

- Khi phần di sản không được định đoạt theo di chúc: nếu người để lại di sản chỉ định đoạt một phần di sản thì phần còn lại sẽ được áp dụng chia thừa kế theo pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Tư vấn chia thừa kế khi ông nội mất không có di chúc ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Ông,bà nội tôi mất đi không để lại di chúc. Ông,bà tôi có 3 người con là bố tôi, chú tôi cùng một người cô. Ông,bà tôi mất có để lại một căn nhà diện tích 85m2, là nhà cấp 4 mái tranh.

Khi ông bà tôi mất năm 1979 thì gia đình tôi cùng người chú và cô đã xây dựng lại ngôi nhà mà kinh phí chủ yếu là của gia đình tôi bỏ ra. Khi xây nhà xong vì không có người ở vì bố, mẹ tôi và gia đình tôi công tác và sinh sống ở hà nội, chú tôi thì lấy vợ và công tác trong Vinh, cô tôi thì ở với gia đình chồng nên bố tôi đã bảo chú tôi xin chuyển công tác và đưa gia đình về quê sống trông nhà ở thành phố Ninh Bình. Từ thời điểm đó không ai nói đến vấn đề chia tài sản ông, bà để lại và trong thời gian ở nhà của ông, bà tôi, chú tôi đã tự ý chuyển quyền sử dụng đất mang tên chú tôi mà không nói với bố tôi và cô tôi biết. Vừa qua chú tôi đã bán ngôi nhà đó cũng không thông qua ý kiến của bố tôi và cô tôi, khi bố tôi và cô tôi không đồng ý cho bán vì ngôi nhà do đó là của ông,bà tôi để lại, bố tôi và cô tôi muốn giữ lại để làm nơi thờ cúng ông, bà nhưng chú tôi đã không nghe và nói rằng chú tôi đã ở trông nhà bao nhiêu năm. Chú tôi đã âm thầm bán ngôi nhà đó cho người khác.

Vậy xin luật sư cho gia đình tôi được biết là bố và cô tôi phải làm như thế nào để yêu cầu chú tôi có trách nhiệm với bố và cô tôi về phần thừa kế tài sản của ông, bà tôi để lại.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: HD Anh

>> Tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ông bà bạn mất năm 1979 đến nay, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu yêu cầu khởi kiện về thừa kế đã hết:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Nhưng điểm 2.4 Khoản 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định:

"2. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế

2.1. Quyền thừa kế

“Quyền thừa kế” quy định tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Điều 648 của Bộ luật Dân sự bao gồm quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

2.2. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế”.

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 1/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 1/7/1996 đến ngày 1/1/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

b. Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 1/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật Dân sự.

2.3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

a. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế”. Nếu nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được phát sinh trước ngày 01/7/1991 có liên quan đến nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

b. Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tải sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Việc xác định thời hiệu khởi kiện phải căn cứ vào quy định tại các Điều 639, 640 và 418 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại các tiểu mục 1.2, 1.3, 1.4 mục 1 Phần I của Nghị quyết này.

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Từ thời điểm mở thừa kế cô, bố và chú của bạn không có tranh chấp về quyền thừa kế, như vậy di sản thừa kế sẽ trở thành tài sản chung nếu đáp ứng được điều kiện sau:

- Có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế;

- Có văn bản thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia;

Trong trường hợp này, bố, cô và chú của bạn có thể thỏa thuận về phần thừa kế của mình; nếu không thỏa thuận được thì bố và cô bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tranh chấp thừa kế giữa con nuôi và con đẻ có di chúc ?

Thưa luật sư, Tôi có bà Bác (chị gái bố tôi) sinh năm 1934 tại Vạn Yên, H.Mê Linh, HN, Bác tôi lấy chồng năm 19 tuổi và sau đó có 02 người con gái, chồng bác tôi hy sinh khi đang làm nhiệm vụ trong quân đội năm 1969.

Đến tháng 4 năm 1982 bác tôi có thêm 01 người con trai với người đàn ông trong làng, nên bị gia đình nhà chồng (cụ thể là em trai chồng, các anh em chú bác nhà chồng và đặc biệt cả hai chị con gái của bác tôi cũng nghe theo lời cô dì chú bác nhà chồng mà ruồng bỏ mẹ đẻ của mình) đuổi bác tôi ra khỏi nhà cùng với người con trai mới sinh 7 ngày tuổi, bác tôi đã cùng người con trai về ở với gia đình bố mẹ đẻ và người em trai (là ông bà nội và bố của tôi bây giờ), được khoảng 01 tháng thì hai mẹ con bác tôi đến ở nhờ nhà một người bà con bên bố mẹ đẻ, được một thời gian ngắn thì người con trai của bác tôi mất, khi đó mới được 06 tháng tuổi, từ đó bác tôi một mình ra ở nhờ 01 gian phòng nhỏ, tạm bợ trong kho của Hợp tác xã lúc bấy giờ.

Trong lúc bác tôi cô đơn, thiếu thốn tình cảm, bố mẹ tôi đã cho người con trai thứ 2 của mình (là em trai của tôi sinh năm 1979) đến ở với bác để sớm tối bác cháu có nhau, để vui cửa vui nhà và bác tôi cũng đã nhận em tôi là con nuôi từ đó (1982), vào thời điểm đó tuy chưa có giấy tờ thủ tục nhận con nuôi nhưng em tôi đã sống với bác tôi gần 30 năm nay và trong sổ hộ khẩu đã đăng ký, quan hệ giữa bác tôi và em tôi là mẹ con, vợ em tôi là con dâu.

Vì bác tôi không có nhà cửa, sống nhờ trên đất của dân làng nên năm 1998 Đảng và nhà nước có quyết định giao cho bác tôi 01 thửa đất, diện tích là 150m2, để xây nhà nhưng UBND xã (chủ tịch xã thời điểm đó là em họ với chồng của Bác tôi) đã không thực hiện theo quyết định của nhà nước, cũng không nói cho bác tôi biết về quyết định đó, cho đến khi 2 người dân trong làng (là anh Chiến và ông Đính – hiện đã chết) biết chuyện có công văn quyết định gửi về UBND xã giao đất cho bác tôi, nên đã cất công đi kiện đòi lại quyền lợi cho bác tôi, cho đến năm 2002 Đảng và nhà nước có cấp cho bác tôi một căn nhà tình nghĩa trên thửa đất đó và sử dụng hợp pháp 01 quyền sử dụng đất tại địa phương.

-Diện tich: 150m2

-Gắn liền với thửa đất nêu trên là toàn bộ nhà tình nghĩa xây cấp 4 diện tích: 40m2 cùng sân vườn và cây cối lâm lộc trên đất.

Tháng 7 năm 2009 bác tôi có làm bản di chúc tại: Phòng công chứng số 2 tỉnh Vĩnh Phúc.

Với nội dung: người thừa hưởng di chúc là vợ chồng em tôi.

Khi bác tôi còn sống và minh mẫn đã hoàn toàn đồng ý cho vợ chồng em tôi toàn quyền sử dụng toàn bộ tài sản nêu trên, đồng thời có trách nhiệm chăm sóc lúc bác tôi ốm đau, bệnh tật chu đáo.

Sau khi bác tôi qua đời toàn bộ tài sản của bác tôi sẽ tặng cho vợ chồng em tôi được thừa hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất và các tài sản khác trên đất thuộc quyền sở hữu của bác tôi, đồng thời vợ chồng em tôi phải có trách nhiệm hương khói cho bác tôi và chồng bác tôi sau này.

Trong bản di chúc bác tôi có nói ngoài vợ chồng em tôi ra bác tôi không để lại di sản thừa kế cho bất cứ người nào khác.

Để làm chứng cho bản di chúc này đã có hai người làm chứng.

Ngày 22 tháng 4 năm 2012 bác tôi đã chút hơi thở cuối cùng tại quê nhà, được gia đình an táng tại quê nhà ngày 24 tháng 4 năm 2012.

Xin luật sư tư vấn và cho tôi hỏi một số vấn đề sau:

- khi bác tôi chết, các chị con gái của bác tôi và gia đình họ hàng nhà chồng bác tôi đến gây sự đòi đứng ra làm mai táng cho bác tôi và không cho em tôi đứng ra chôn cất mai táng bác tôi, không công nhận em tôi là con nuôi của bà là đúng hay sai?

- trong di chúc của bác tôi không hề nhắc đến 2 người con gái của bà, vậy em tôi có phải công bố di chúc với các chị ấy hay không?

- nếu xảy ra tranh chấp tài sản giữa các người con gái của bác tôi và em tôi thì theo pháp luật các chị ấy có được hưởng tài sản của bác tôi hay không?

(hai chị con gái của bác tôi đều khoẻ mạnh và đã có chồng con, cháu nội cháu ngoại)

- Khi vợ chồng em tôi làm lễ tứ cửu (49 ngày) cho bác tôi, gia đình phía các chị con gái của bác tôi đưa nhau lên để khà khịa, quấy rối, chửi bới, tranh dành làm lễ, như vậy đúng hay sai?

- Các chị con gái của bác tôi đã gửi đơn kiện vào tòa án nhân dân Huyện Mê Linh đòi hủy di chúc và chia tài sản, tòa án H.Mê Linh cũng nhiều lần gọi hai bên vào giải hòa nhưng gia đình tôi không chấp nhận. Cuối cùng tòa án Nhân dân H.Mê Linh đã ra quyết định xử vụ án dân sự vào ngày 10/7/2015.

Vậy theo luật sư gia đình tôi phải làm như thế nào để bảo vệ quyền lợi và có nên nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình hay không?

Cuối cùng gia đình tôi xin được trân thành cảm ơn luật sư. Kính chúc luật sư luôn mạnh khoẻ và thành công!

Người gửi: NTT

Trả lời:

Theo điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế:

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Theo đó, bác của bạn là công dân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì vậy được pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong đó có quyền quyết định tài sản thừa kế sau khi chết.

Bác bạn có toàn quyền quyết định đối với tài sản cá nhân đứng tên mình sẽ chia cho ai? chia bao nhiêu? chia như thế nào? sau khi đã thực hiện những nghĩa vụ nhất định (nếu có) theo điều 648 Bộ luật Dân sự.

Cụ thể trong trường hợp này, người hưởng tài sản thừa kế là con trai nuôi và con dâu nuôi (tức vợ chồng em của bạn).

Bác còn có hai người con gái ruột tuy nhiên tên của họ không được nêu trong danh sách những người được hưởng tài sản, điều này được hiểu là họ không được hưởng di sản thừa kế.

Bản di chúc này được thực hiện vào thời điểm bác bạn vẫn còn minh mẫn, đã được công chứng và có người làm chứng tức là đã đảm bảo về mặt giá trị pháp lý theo điều 630 Bộ luật Dân 2015 quy định về điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp, cụ thể:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Pháp luật có quy định một số trường hợp người hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc (theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015), cụ thể:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Tuy nhiên theo như bạn đã trình bày, hai người con gái của bác tôi đều khoẻ mạnh và đã có chồng con, cháu nội, cháu ngoại. Vì vậy họ không thuộc đối tượng được quy định trong điều luật này.

Sau khi bác bạn mất là thời điểm di chúc bắt đầu có hiệu lực. Gia đình bạn nên công bố di chúc này và đưa nó ra làm bằng chứng trước tòa nếu xảy ra tranh chấp trong việc chia di sản.

Về việc gia đình nhà chồng và hai người con gái của bác bạn đến gây rối nếu không thể hòa giải được bạn nên yêu cầu sự can thiệp của chính quyền địa phương.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?