1. Thừa kế theo di chúc Ông bà cho cháu ?

Thưa luật sư, Ông bà cháu có tất cả 3 người con trai và 6 cháu trai cháu là cháu út. Trước khi ông nội mất đã chia hết tài sản và đất đai cho 3 người con. Bà cháu còn giữ lại 1 mảnh đất ruộng đất hoa màu để bà canh tác. Bà cháu nay đã già và muốn cho cháu mảnh đất ruộng đấy vì cháu là người nuôi dưỡng bà mấy năm nay (bố mẹ cháu vào nam sống, trước đây bà cũng vào nam sống nhưng giờ già bà lại về quê và cháu về theo để chăm sóc bà mấy năm nay.
Bác cả dù ở kế bên nhà nhưng không khi nào quan tâm để ý hay hỏi han gì bà cháu mà ngược lại còn chửi bới. Bác thứ 2 cũng vào Tây Nguyên sống, giờ bà muốn cho cháu mảnh đất ruộng ấy thì cần làm thủ tục như thế nào vì mảnh đất không có sổ đỏ chỉ có giấy xác nhận của xã là đất của bà ?
Xin hãy giúp cháu!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

Điều 689. Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

1. Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

3. Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 733 đến Điều 735 của Bộ luật này.

Như vậy việc bà bạn muốn để lại cho bạn phần đất này thì có thể thông qua hình thức tặng cho quyền sử dụng đất hoặc là viết di chúc để lại cho bạn thừa kế.

Trước tiên bà bạn nên đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.

4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;

c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

6. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định.

Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà bạn có thể làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn hoặc là viết di chúc.

Theo điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:

1. Thẩm quyền giải quyết: UBND cấp Quận (huyện) nơi có nhà đất

2. Đối tượng thực hiện: Cá nhân, hộ gia đình

3. Cách thức thực hiện: Hồ sơ của bước trước làm cơ sở để thực hiện các bước sau và được bổ sung theo từng bước như sau:

Bước 1: Các bên đến cơ quan công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập hợp đồng, các bên phải kê khai lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, nếu quá thời hạn trên sẽ bị phạt theo quy định của nhà nước.

Bước 2: Kê khai nghĩa vụ tài chính (tại UBND cấp huyện nơi có nhà, đất)

Hồ sơ thực hiện việc sang tên sổ đỏ gồm:

- Tờ khai lệ phí trước bạ (02 bản do bên mua ký)

- Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (02 bản do bên bán ký).

- Hợp đồng công chứng đã lập (01 bản chính)

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)

- CMND + Sổ hộ khẩu của cả bên mua và bên bán (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)

- Đối với trường hợp cho tặng, thừa kế phải có giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của người cho và người nhận để được miễn thuế thu nhập cá nhân.
- Thời hạn có thông báo nộp thuế: 10 ngày Sau khi có thông báo thì người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

Bước 3: Kê khai hồ sơ sang tên (tại UBND quận/huyện nơi có nhà, đất)

Hồ sơ sang tên sổ đỏ - Thành phần hồ sơ gồm:

- Đơn đề nghị đăng ký biến động (do bên bán ký); Trong trường hợp có thoả thuận trong hợp đồng về việc bên mua thực hiện thủ tục hành chính thì bên mua có thể ký thay.

- Hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho; hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản; văn bản khai nhận di sản;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (bản gốc)

- Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước (bản gốc)

- Bản sao CMND + Sổ hộ khẩu của bên nhận chuyển nhượng.

- Thời hạn sang tên: Theo quy định của pháp luật.

Bước 4: Nộp đủ lệ phí theo quy định và nhận sổ đỏ.

Các loại thuế và lệ phí phải nộp khi chuyển quyền sở hữu đất:

1.Thuế thu nhập cá nhân.

Nhưng theo khoản 1 điều 4 luật thuế thu nhập cá nhân có quy định:

" Thu nhập được miễn thuế

1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.”

2. một số loại phí và lệ phí sau:

Lệ phí trước bạ:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 45/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Về lệ phí trước bạ, cụ thể như sau:

Tiền nộp đất = (Diện tích đất) x (Giá đất) x (Lệ phí)

Trong đó:

- Diện tích đất tính bằng m2

- Giá đất theo bảng giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất.

- Lệ phí 0,5%.

Các lệ phí khác

Theo điểm b Khoản 2 Điều 3 Thông tư 02/2014/TT-BTC hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương việc chuyển nhượng sẽ chịu lệ phí đại chính như sau:

* Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất:

Mức thu tối đa không quá 100.000 đồng/giấy đối với cấp mới; tối đa không quá 50.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào giấy chứng nhận.

Trường hợp giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình, cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất (không có nhà và tài sản khác gắn liền với đất) thì áp dụng mức thu tối đa không quá 25.000 đồng/giấy cấp mới; tối đa không quá 20.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào giấy chứng nhận.

* Chứng nhận đăng ký biến động về đất đai: Không quá 28.000 đồng/1 lần.

* Trích lục bản đồ địa chính, văn bản, số liệu hồ sơ địa chính: Không quá 15.000 đồng/1 lần.

+ Mức thu áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân tại các khu vực khác: Tối đa không quá 50% mức thu áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; phường nội thành thuộc thành phố hoặc thị xã trực thuộc tỉnh.

+ Miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và các phường nội thành thuộc thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh được cấp giấy chứng nhận ở nông thôn thì không được miễn lệ phí cấp giấy chứng nhận.

Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bạn đóng thuế đất theo quy định tại Điều 7, 8 Thông tư 153/2011/TT-BTC hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Biên bản họp gia đình về chia thừa kế đất đai có hiệu lực pháp luật không ? Thời hạn chia thừa kế

2. Có được làm di chúc cho tổ chức nước ngoài hưởng di sản ?

Kính chào luật sư, tôi có một vấn đề rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư: Làm di chúc cho tổ chức nước ngoài hưởng di sản của mình? Tôi muốn được tư vấn luật về trường hợp như sau: Bố mẹ tôi đã mất để lại di sản và bố mẹ tôi có hai người con. Theo như di chúc để lại đã được chứng thực tại phường, di sản để lại gồm 1 căn nhà và 1 mảnh đất và được yêu cầu phải chia cho công bằng. Ngoài ra còn một di chúc là giấy viết tay không chứng thực của mẹ tôi ghi về số tiền mặt trong ngân hàng sẽ cho ai bao nhiêu.

Tôi muốn lập một di chúc cá nhân đề nghị hiến tặng toàn bộ số tiền thừa hưởng của tôi cho quỹ bảo tồn hiên nhiên ở nước ngoài. Vậy cho tôi hỏi, chi phí và thủ tục để thực hiện là như thế nào. Và giả sử khi tôi mất đi thì ai sẽ là người giữ những giấy tờ của tôi để biết mà đảm bảo mọi việc được thực hiện đúng? Tôi muốn mọi thông tin trao đổi phải được giữ kín và đảm bảo bí mật ?

Xin cảm ơn!

Người gửi: Linh Nguyen

>> Tư vấn pháp luật dân sự, hình sự, hành chính. Gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Trường hợp, cha mẹ của bạn mất có để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo di chúc. Theo quy định tại Điều 684 Bộ luật dân sự năm 2005 về phân chia di sản theo di chúc thì:

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Theo đó, căn nhà và mảnh đất sẽ được chia đôi cho 2 người con. Về tiền mặt trong ngân hàng, mẹ bạn có viết di chúc chỉ định chia thế nào thì số tiền đó sẽ được chia theo di chúc.

2. Trường hợp bạn muốn hiến toàn bộ di sản mà bạn được thừa kế cho quỹ bảo tồn thiên nhiên ở nước ngoài.

Sau khi đã nhận được di sản thừa kế do bố mẹ bạn để lại, bạn có thể lập một di chúc khác hiến toàn bộ di sản mà bạn thừa kế do quỹ bảo tồn thiên nhiên ở nước ngoài.

Di chúc này cần được lập thành văn bản với nội dung cụ thể được quy định tại Điều 653 BLDS. Bạn có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. Trong di chúc bạn có thể chỉ định người quản lý di sản. Người quản lý di sản có các quyền và nghĩa vụ cụ thể theo quy định tại Điều 639 và Điều 640 BLDS.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Di sản dùng vào việc thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không ? Thủ tục chia thừa kế

3. Quy định về chia thừa kế theo di chúc theo ?

Xin chào luật sư! Tôi có vấn đề cần được tư vấn như sau: Năm 2012, ba mẹ tôi có lập di chúc để lại căn nhà cho tôi và người anh (nhà có 5 anh chị em). Di chúc do Ba-Mẹ tôi tự nguyện lập khi đầu óc còn tỉnh táo và minh mẫn, không bị tác động của bất kì ai và được lập tại phòng công chứng. Nội dung di chúc là sau khi ba mẹ tôi chết thì anh tôi và tôi được toàn quyền quyết định về căn nhà do ông bà đứng tên.
Ba tôi vừa mới chết năm 2015, hiện tại chỉ còn lại mẹ. Xin nhờ luật sư tư vấn giúp :
1. Bản di chúc theo quy định pháp luật thì có thời hạn hiệu lực bao nhiêu lâu ?
2.Thời điểm mở thừa kế quy định được tính hiệu lực vào thời điểm người chết trước hay người chết sau ?;
3. Hiện tại mẹ tôi còn sống thì bản di chúc chưa có hiệu lực phải không? Và phải đợi khi Mẹ tôi chết mới được mở thừa kế phải không?
4. Theo như bản di chúc thì anh tôi và tôi được toàn quyền quyết định về căn nhà sau khi ba mẹ chết thì tôi và người anh tự thỏa thuận để xử lí sang tên căn nhà được không hay phải cần 3 người chị đồng ý mới được?
5. Nội dung di chúc như vậy thì ba người chị còn lại thì có quyền thừa hưởng di sản không? Và nếu không được hưởng thì có quyền khởi kiện hay không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thừa kế theo di chúc theo quy định pháp luật hiện hành ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, đối với vấn đề bạn có hỏi: Bản di chúc theo quy định pháp luật thì có thời hạn hiệu lực bao nhiêu lâu?, về vấn đề này, hiện nay không có quy định pháp luật về thời hạn của di chúc, hiện nay pháp luật mới chỉ quy định di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế (tại khoản 1 Điều 667 Bộ luật hình sự).

Thứ hai, bạn có hỏi: thời điểm mở thừa kế được tính để làm phát sinh hiệu lực của di chúc là vào thời điểm người chết trước hay người chết sau?. Theo như bạn đề cập, ba mẹ bạn có lập di chúc để lại cho bạn và anh trai bạn, như vậy có thể xác định di chúc này là di chúc chung của ba mẹ bạn để định đoạt tài sản chung của ba mẹ bạn là căn nhà mà ba mẹ bạn đứng tên. Theo quy định pháp luật dân sự hiện hành, cụ thể tại Điều 668 về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng (Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11) có quy định như sau: "Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết." Với quy định này thì di chúc mà ba mẹ bạn lập sẽ phát sinh hiệu lực sau khi mẹ bạn mất.

Thứ ba, bạn có hỏi: Hiện tại mẹ bạn còn sống thì bản di chúc chưa có hiệu lực phải không?: Như đã nêu ở câu trên, theo quy định pháp luật hiện hành thì di chúc chung của vợ chồng chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật tại thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm cả vợ và chồng cùng chết, chính vì vậy mà hiện tại mẹ bạn còn sống nên di chúc chưa phát sinh hiệu lực trên thực tế.

Thứ tư, về việc theo như bản di chúc thì anh bạn và bạn được toàn quyền quyết định về căn nhà sau khi ba mẹ bạn chết thì bạn và người anh tự thỏa thuận để xử lý sang tên căn nhà được không hay phải cần 3 người chị đồng ý mới được?: Đối với vấn đề này, Điều 684 về phân chia di sản theo di chúc (Bộ luật dân sự 2005) quy định tại khoản 1 như sau: "Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác".

Như vậy việc phân chia căn nhà này sẽ được thực hiện theo ý chí của ba mẹ bạn ghi trong di chúc, nếu trong bản di chúc này ba mẹ bạn không nêu rõ việc xác định phần di sản được chia thì việc phân chia có thể được phân chia đều cho cả bạn và anh trai, trừ khi có thỏa thuận khác, và việc phân chia di sản này không cần phải có sự đồng ý của ba người chị còn lại của bạn trong trường hợp di chúc mà ba mẹ bạn lập là hợp pháp (tham khảo Điều 652 Bộ luật dân sự). Tuy nhiên cần lưu ý với bạn rằng, do mẹ bạn hiện vẫn còn sống, bản di chúc chưa phát sinh hiệu lực chính vì vậy, mẹ bạn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc liên quan đến phần tài sản của mẹ bạn theo quy định tại Điều 664 Bộ luật dân sự.

Thứ năm: Với câu hỏi của bạn: Nội dung di chúc như vậy thì ba người chị còn lại có quyền thừa hưởng di sản không? Và nếu không được hưởng thì có quyền khởi kiện hay không?, xin trả lời bạn như sau: Trong trường hợp với nội dung di chúc như bạn đã nêu, mẹ bạn không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc và di chúc là hợp pháp theo quy định pháp luật hiện hành thì ba người chị còn lại của bạn không có quyền hưởng di sản thừa kế từ ba mẹ bạn, di sản thừa kế sẽ được phân chia theo đúng ý chí của người để lại thừa kế, . Tuy nhiên trong trường hợp sau đây thì ba người chị của bạn sẽ có quyền được hưởng di sản thừa kế nếu thuộc một trong hai đối tượng được quy định tại Điều 669 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, theo đó Điều này quy định như sau:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".

Với quy định này mặc dù không được chỉ định là người thừa kế nhưng ba người chị của bạn vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Và trong trường hợp này họ hoàn toàn có quyền khởi kiện về thừa kế để đảm bảo quyền lợi của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế

4. Hướng dẫn quy định của pháp luật về quyền thừa kế theo di chúc ?

Chào luật Minh Khuê, luật sư có thể tư vấn cho tôi vấn đề này được không. Dì 4 của tôi có 1 căn nhà ( căn nhà này do dì 3 của tôi trước khi đi nước ngoài để lại cho dì 4 của tôi) và căn nhà này do dì 4 tôi đứng tên sở hữu. Năm 2007, dì 4 của tôi mất, dì 4 tôi có chồng và 3 đứa con và mẹ của dì 4 vẫn còn sống (tức ngoại của tôi).
Năm 2012, ngoại tôi mất có để lại di chúc là tất cả tài sản thuộc quyền sở hữu của ngoại tôi đều để lại cho tôi. Vậy luật sư cho tôi hỏi là tôi có được quyền sở hữu 1 phần giá trị căn nhà trên mà ngoại tôi được hưởng hay không?
Cám ơn luật sư rất nhiều.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Như vậy trường hợp của dì bạn thuộc trường hợp không có di chúc. chính vị vậy mà di sản mà Dì bạn để lại sẽ được thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ vào điều 676 bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy theo quy định của điều 676 Bộ luật Dân Sự năm 2005 thì bà ngoại của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Chính vị vậy mà khi phân chia di sản thừa kê theo pháp luật bà ngoại của bạn sẽ được một phần di sản thừa kế. Và cụ thể ở đây là một phần căn nhà của Dì bạn để lại, trong trường hợp mà bà ngoại của bạn mất có để lại di chúc cho bạn bao gồm toàn bộ tại sản thuộc quyền sở hữu của bà bạn. Thì bạn hoàn toàn có quyền sở hữu một phần căn nhà mà DI bạn để lại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Chia tài sản thừa kế cho chín người con như thế nào ? Tư vấn phân chia tài sản thừa kế là đất đai ?

5. Tư vấn hưởng di sản thừa kế khi ông bà mất không để lại di chúc ?

Xin luật sư cho tôi hỏi một việc như sau: Ông bà nội tôi sinh được 4 người con trong đó có bố tôi. Gia đình tôi có nhà và sống riêng nhưng không may bố tôi đã qua đời trong một vụ tai nạn giao thông, mẹ tôi phải bán nhà để chạy chữa nên mẹ tôi, tôi và em tôi phải ở nhà thuê. Hiện tại chú út đang ở với ông bà nội tôi, năm 2013 ông nội tôi mất một năm sau đó bà nội tôi cũng mất và cả hai không để lại di chúc.
Vậy xin hỏi trường hợp ông, bà nội tôi mất mà không để lại di chúc trong khi bố tôi cũng đã mất trước đó thì mẹ, con tôi có được thay bố nhận thừa kế tài sản của ông bà tôi không?​

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì ông, bà nội bạn mất không để lại di chúc, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 675 BLDS 2005 thì di sản sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Trường hợp của bạn, ông bà nội bạn có 4 người con nên sẽ có 4 người ở hàng thừa kế thứ nhất được nhận phần di sản thừa kế ông bà nội bạn để lại. Tuy nhiên, do không may nên bố bạn đã qua đời, chỉ còn lại mẹ bạn và em bạn nên sẽ thuộc và trường hợp thừa kế thế vị theo Điều 677 BLDS:

"Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Vì bố bạn mất trước ông, bà bạn - bố của bạn qua đời trước thời điểm người để lại di sản thừa kế là ông bà nội bạn qua đời. Do đó, theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005, bạn và em của bạn được hưởng phần di sản mà bố của bạn và theo quy định thì mẹ bạn không được hưởng thừa kế này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, hy vọng có thể giúp bạn giải đáp được những vướng mắc của mình. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xác định hàng thừa kế thứ nhất và cách phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?