1. Công chức bị tạm giam, tạm giữ có đóng bảo hiểm xã hội không?

Theo quy định tại khoản 2 điều 88 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, đề cập đến việc tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với trường hợp người lao động bị tạm giam. 

Khi một người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bị tạm giam, hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ áp đặt một quy định đặc biệt. Theo quy định này, cả người lao động và người sử dụng lao động sẽ được tạm dừng việc đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian người lao động ấy bị tạm giam. Điều này nhằm đảm bảo rằng không có tiền bảo hiểm xã hội nào được trích từ thu nhập của họ trong thời gian họ ở trong tình trạng tạm giam.

Tuy nhiên, quy định này đi kèm với một điều kiện quan trọng và công bằng. Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền xác định rằng người lao động bị tạm giam mà không có lý do chính đáng, tức là họ bị oan, bị kết án sai, thì người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện việc đóng bù bảo hiểm xã hội cho khoảng thời gian mà người lao động bị tạm giam.

Điều này là một biện pháp bảo vệ quan trọng để đảm bảo rằng người lao động không phải chịu thiệt hại tài chính do các quyết định tạm giam sai lầm hoặc bất công. Nó thể hiện sự công bằng và tính đoàn kết trong hệ thống bảo hiểm xã hội, đồng thời đảm bảo rằng người lao động vẫn được bảo vệ và hưởng lợi từ chính sách xã hội trong mọi tình huống.

Số tiền đóng bù này sẽ không được tính lãi chậm đóng, theo quy định tại khoản 3 của Điều 122 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014. Điều này nhằm bảo đảm rằng người lao động không bị thiệt thòi trong trường hợp bị tạm giam mà sau này được xác định là vô tội. Quy định này thể hiện tinh thần bảo vệ quyền lợi của người lao động trong tình huống đặc biệt này.

Bên cạnh các quy định tại khoản 2 Điều 88 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về việc tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động bị tạm giam, còn căn cứ vào khoản 7 Điều 42 của Quyết định số 595/QĐ-BHXH năm 2017, chúng ta có thêm một số quy định quan trọng.

Theo đó, khi một người lao động bị tạm giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác để điều tra và xem xét kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp luật, thì cả người lao động và đơn vị sẽ được tạm dừng việc đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ), và bảo hiểm người lao động bệnh nghề nghiệp (BNN). Tuy nhiên, người lao động vẫn phải tiếp tục đóng bảo hiểm y tế (BHYT) hằng tháng.

Mức đóng BHYT sẽ được tính dựa trên 4,5% của 50% mức tiền lương tháng mà người lao động được hưởng, theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động vẫn có quyền tiếp tục sử dụng dịch vụ y tế cơ bản trong thời gian bị tạm dừng đóng các khoản bảo hiểm xã hội khác trong quá trình xem xét việc vi phạm pháp luật của họ.

Như vậy, trong thời gian công chức bị tạm giam thì cơ quan được tạm dừng đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn phải đóng BHYT hằng tháng bằng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng mà người đó được hưởng. Trường hợp người đó được kết luận là oan, sai thì thực hiện việc đóng bù BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN trên tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc và truy đóng BHYT trên số tiền lương được truy lĩnh, không tính lãi đối với số tiền truy đóng; Trường hợp người đó bị Tòa án tuyên là có tội không thực hiện việc đóng bù BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN và không phải truy đóng BHYT cho thời gian bị tạm giam.

2. Thực hiện đóng bù bảo hiểm xã hội cho thời gian bị tạm giam, tạm giữ như thế nào?

Một cách cụ thể hơn, quy định này đã được hướng dẫn tại Khoản 5 Điều 16 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, như sau:

- Sau khi kết thúc thời gian tạm giam, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định rằng người lao động bị tạm giam mà không có lý do chính đáng, tức là bị oan, sai, thì việc đóng bù bảo hiểm xã hội sẽ được thực hiện. Trong trường hợp người lao động là cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an hoặc người thực hiện công tác trong các tổ chức cơ yếu, thì người lao động và người sử dụng lao động sẽ chịu trách nhiệm thực hiện việc đóng bù bảo hiểm xã hội. Đối với các trường hợp khác, việc đóng bù bảo hiểm xã hội sẽ được thực hiện thông qua người sử dụng lao động, dựa trên số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

- Số tiền đóng bù bảo hiểm xã hội không bao gồm lãi chậm đóng, theo quy định tại Khoản 3 Điều 122 của Luật Bảo hiểm xã hội. Điều này nhằm đảm bảo rằng số tiền được đóng bù là hợp lý và không bị tính thêm các khoản phí không cần thiết.

Sau khi kết thúc thời gian tạm giam, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định rằng bạn bị oan, sai và không vi phạm pháp luật, thì quy định về việc đóng bù bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động (BHTNLĐ), và bảo hiểm người lao động bệnh nghề nghiệp (BNN) sẽ áp dụng. Điều này bao gồm việc đóng bù trên mức tiền lương tháng được sử dụng để tính BHXH bắt buộc và cả việc truy đóng BHYT trên số tiền lương đã truy lĩnh. Lãi chậm đóng sẽ không được tính vào số tiền truy đóng này.

Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định rằng có tội trong thời gian tạm giam, thì việc đóng bù BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN sẽ không thực hiện và cũng sẽ không phải truy đóng BHYT cho thời gian bạn bị tạm giam.

Trong trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an hoặc thực hiện công tác trong tổ chức cơ yếu, bạn và người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện việc đóng bù BHXH theo quy định.

Đối với các trường hợp khác, quy định về việc đóng bù sẽ áp dụng thông qua người sử dụng lao động, dựa trên số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi của người lao động trong tình huống cụ thể này.

3. Công chức bị tạm giam, tạm giữ được kết luận oan sẽ được hưởng lương thế nào?

Căn cứ vào khoản 2 của Điều 41 trong Nghị định 112/2020/NĐ-CP, quy định về chế độ và chính sách đối với trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm đình chỉ chức vụ được xác định cụ thể như sau:

- Trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai, thì quy định chế độ áp dụng như sau: Viên chức bị tạm giữ hoặc tạm giữ sẽ được truy lĩnh 50% còn lại của số lương được hưởng, bao gồm 50% của mức lương hiện hưởng và cộng thêm các phụ cấp như phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có), vào thời điểm bị tạm giữ hoặc tạm giữ. 

Như vậy, khi một viên chức bị tạm giữ hoặc tạm giữ và sau đó được kết luận là oan, sai, quy định này đảm bảo rằng họ sẽ được đền bù một phần công bằng của lương và các khoản phụ cấp mà họ đã mất trong thời gian bị tạm giữ hoặc tạm giữ. Điều này là một biện pháp bảo vệ quyền lợi của viên chức trong tình huống đặc biệt này và đồng thời đảm bảo sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ việc.

Quy định này phản ánh tinh thần công bằng và sự tự trọng trong xã hội và hệ thống pháp luật. Nó giúp ngăn chặn việc viên chức bị thiệt hại tài chính không cần thiết và cung cấp một cơ chế để khắc phục những hậu quả không công bằng trong tình huống tạm giữ không hợp lý. Trong bất kỳ hệ thống hành pháp và pháp lý nào, việc bảo vệ quyền và sự công bằng cho mọi cá nhân, bao gồm cả viên chức, là rất quan trọng để xây dựng một xã hội và hệ thống hình pháp mạnh mẽ và đáng tin cậy.

Xem thêm bài viết: Viên chức bị tạm giam, tạm giữ thì đóng bảo hiểm xã hội và hưởng lương thế nào theo quy định mới?. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư đến email: lienhe@luatminhkhue.vn