1. Có con bằng phương pháp IVF được hiểu như nào?

Phương pháp IVF (In Vitro Fertilization) là một kỹ thuật điều trị hiếm muộn và vô sinh, trong đó quá trình thụ tinh xảy ra ngoài cơ thể bằng cách kết hợp trứng và tinh trùng trong môi trường điều kiện kiểm soát được gọi là "ngoài cơ thể" (in vitro) trước khi được chuyển lại tử cung để phát triển thành thai nhi.

Quá trình IVF bao gồm các bước sau:

- Stimulation: Trước khi quá trình IVF bắt đầu, người phụ nữ sẽ tiếp nhận các loại hormone để kích thích quá trình phát triển nhiều trứng. Điều này giúp tăng khả năng thu được nhiều trứng trong một lần thụ tinh.

- Thu thập trứng: Sau khi các trứng đã phát triển đủ lớn, bác sĩ sẽ tiến hành thu thập chúng thông qua một thủ thuật hút chân không dưới hướng dẫn siêu âm. Quá trình này thường được tiến hành trong điều kiện tê tại một phòng mổ hoặc phòng xét nghiệm.

- Gặp gỡ tinh trùng: Tinh trùng được thu thập từ người đàn ông thông qua tự quấy hoặc thông qua thủ thuật thu thập tinh trùng.

- Giao tử cung: Các trứng được kết hợp với tinh trùng trong một môi trường ngoài cơ thể trong suốt quá trình giao tử cung (fertilization). Sau khi gặp gỡ, bác sĩ sẽ theo dõi quá trình phát triển thai nhi trong các ngày tiếp theo.

- Truyền phôi thai (Embryo transfer): Khi các phôi thai phát triển đạt đến giai đoạn phù hợp, bác sĩ sẽ chọn một hoặc nhiều phôi thai để truyền vào tử cung của người phụ nữ.

- Theo dõi và chăm sóc: Sau khi truyền phôi thai vào tử cung, bác sĩ sẽ tiếp tục theo dõi để kiểm tra xem có sự thành công trong việc gắn kết và phát triển của thai nhi.

Phương pháp IVF có thể được thực hiện với các phương pháp kỹ thuật tiên tiến hơn như ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection) nếu có vấn đề về tinh trùng, hoặc sử dụng trứng nhân nhiệt (egg freezing) để bảo quản trứng tươi cho tương lai. Phương pháp này đã giúp hàng triệu cặp vợ chồng trên khắp thế giới hiện thực hóa ước mơ có con.

2. Công chức không đăng ký kết hôn được phép có con bằng phương pháp IVF không?

Từ thông tin của Nghị định 10/2015/NĐ-CP về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho thấy:

Thụ tinh trong ống nghiệm là kết hợp noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi.

Đối tượng được áp dụng phương pháp này là cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân.

Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ phải bảo đảm chất lượng để thụ thai. Người nhận noãn phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và là người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh, mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.

Người nhận phôi phải thuộc một trong các trường hợp sau:

- Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng;

- Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại, trừ trường hợp mang thai hộ;

- Phụ nữ độc thân mà không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.

Người phụ nữ độc thân nhận tinh trùng hoặc phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Pháp luật không đề cập đến việc người nam độc thân được có con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, mặc dù nó đã quy định rõ về việc cho phép người phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật này.

Tóm lại, theo quy định Nghị định 10/2015/NĐ-CP, chỉ có cặp vợ chồng là công chức nhưng bị vô sinh hoặc công chức là phụ nữ độc thân mới được áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Người công chức là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con phải đảm bảo chất lượng noãn và thể trạng để thực hiện phương pháp này. Tuy nhiên, nguyên tắc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và các trường hợp nhận tinh trùng, phôi, noãn không đề cập đến việc cho phép người nam độc thân có con bằng phương pháp này.

Hay cụ thể hơn, công chức là nữ không đăng ký kết hôn vẫn có quyền được có con bằng phương phép IVF (thụ tinh trong ống nghiệm) khi đáp ứng các điều kiện về sức khỏe và các điều kiện liên quan khác.

3. Công chức không đăng ký kết hôn có con bằng phương pháp IVF bị xử lý kỷ luật không?

Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, việc viên chức sinh con mà chưa đăng ký kết hôn không được coi là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, và cũng không thuộc vào danh sách các hành vi cấm trong hôn nhân.

Điểm a, b, c và đ quy định các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân, ví dụ như kết hôn với người khác mà chưa ly hôn, chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ hoặc chồng, hoặc chưa kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng với người đã có vợ hoặc chồng. Điểm d cũng quy định về việc cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa các quan hệ họ hàng gần như cha con, mẹ con nuôi, cha chồng và con dâu, mẹ vợ và con rể, cha dượng và con riêng của vợ, mẹ kế và con riêng của chồng.

Từ đó, quy định này không đề cập đến việc viên chức không kết hôn và sinh con, mà chỉ nhắc đến các vi phạm liên quan đến hôn nhân và quan hệ họ hàng. Do đó, việc công chức sinh con theo phương pháp IVF mà chưa đăng ký kết hôn không bị coi là vi phạm chế độ hôn nhân và không bị xử lý kỷ luật hoặc ảnh hưởng đến việc thi đua trong công việc.

Tuy nhiên, về việc công chức có gia đình (đã kết hôn) nhưng lại có con ngoài giá thú theo phương thức IVF với người khác hoặc đang độc thân nhưng có con ngoài giá thú với người đã có gia đình thì có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và thậm chí xử lý hình sự, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và quy định của cơ quan, đơn vị đang công tác. Do đó, công chức cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và quy chế nội bộ của cơ quan để tránh vi phạm và đối mặt với những hậu quả không mong muốn.

4. Những giấy tờ để được thực hiện phương thức IVF

Về quy định trong Nghị định 10/2015/NĐ-CP liên quan đến việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho người phụ nữ độc thân và vấn đề liên quan đến người nam độc thân như sau:

Quy định về thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho người phụ nữ độc thân:

Theo Điều 11 Nghị định 10/2015/NĐ-CP, người phụ nữ độc thân có quyền gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đến cơ sở khám chữa bệnh. Hồ sơ bao gồm đơn đề nghị theo mẫu quy định và hồ sơ khám xác định vô sinh của người phụ nữ độc thân. Cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cần có kế hoạch điều trị cho người phụ nữ độc thân. Trường hợp không thể thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và không thể có kế hoạch điều trị, cơ sở khám bệnh phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do.

Vấn đề liên quan đến người nam độc thân:

Theo nội dung trích dẫn, Nghị định 10/2015/NĐ-CP chỉ đề cập đến quyền của người phụ nữ độc thân trong việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Hiện tại, trong pháp luật, chưa có quy định cụ thể về việc người nam độc thân có quyền thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Tóm lại, theo quy định trong Nghị định 10/2015/NĐ-CP, người phụ nữ độc thân có quyền sinh con theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Tuy nhiên, đối với người nam độc thân, hiện tại pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc này.

Xem thêm: Người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có được hưởng thừa kế của người cho tinh trùng, cho noãn hay không?

Luật Minh Khuê tiếp nhận giải đáp các thắc mắc nhanh chóng qua tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn quý khách hàng./.