1. Công ước  New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài.

Phán quyết trọng tài là quyết định giải quyết toàn bộ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài (khác với Quyết định trọng tài là quyết định được ban hành trong quá trình giải quyết tranh chấp). Theo cuốn hướng dẫn của Hội đồng quốc tế về trọng tài thương mại (viết tắt là ICCa) diễn giải Công ước 1958 có viết “Thể thức trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên thống nhất đưa tranh chấp ra một bên thứ ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm và có tính ràng buộc thay vì đưa ra Tòa án”. Như vậy, phán quyết trọng tài có 3 đặc điểm: (1) Có sự đồng thuận dựa trên thỏa thuận của các bên; (2) là biện pháp giải quyết tranh chấp có tính chất chung thẩm (có hiệu lực pháp luật ngay) và ràng buộc các bên; (3) là phương thức thay thế tố tụng tại Tòa án.
Việc công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài hiện nay được hầu hết các nước áp dụng theo Công ước New York năm 1958 (sau đây viết tắt là Công ước 1958). Ngoài Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, một số điều ước quốc tế khu vực trong lĩnh vực này cũng rất đáng quan tâm, như: Công ước Liên Mỹ về Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1975, Công ước châu Âu về Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1961, Công ước Ả Rập về Trọng tài thương mại năm 1987, Công ước về giải quyết tuyên phán quyết thì chỉ đặt ra vấn để phán quyết để có hiệu lực thi hành tại Việt Nam hay bị hủy bởi tòa án Việt Nam vì phán quyết trọng tài đó là phán quyết trọng tài trong nước (trọng tài Việt Nam).
Ngày 28/7/1995, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 453/QĐ-CTN về việc tham gia Công ước về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Được biết cho đến nay đã có khoảng 156 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước 1958.
Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết với 18 nước Hiệp định song phương, trong đó có 14 hiệp định về tương trợ tư pháp đề cập đến quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài, bao gồm các hiệp định với: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ.
Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà nước ta ký thời gian gần đây (Hiệp định với Nga, Trung Quốc, Pháp) cũng quy định đối với việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài thực hiện theo các quy định của Công ước này. Nội dung Công ước 1958 quy định các nước thành viên phải công nhận các phán quyết Trọng tài được đưa ra ngoài lãnh thổ của họ và các phán quyết không được coi là phán quyết trong nước của các nước thành viên. Các phán quyết Trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như những quyết định của Toà án địa phương và hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành phán quyết.

2. Nội dung và nguyên tắc cơ bản của công ước 1958

2.1. Nguyên tắc

Công ước xác định những nguyên tắc chính trong quá trình công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài như sau:
-  Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài bằng văn bản, đồng thời đảm bảo các tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện trong trường hợp các bên tranh chấp đã có một thỏa thuận trọng tài;
-  Các quốc gia thành viên bảo đảm việc công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của quốc gia mình một phán quyết của trọng tài đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác;
-  Các quốc gia thành viên không được có sự phân biệt đối xử giữa công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài so với phán quyết của trọng tài trong nước;
-  Công ước không loại trừ quyền được áp dụng các quy định có lợi hơn đối với việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài được quy định trong các điều ước quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.

2.2. Nội dung cơ bản

Công ước New York 1958 có một số nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phán quyết trọng tài thuộc diện điều chỉnh của Công ước cụ thể Điều 1, phán quyết của trọng tài nước ngoài được hiểu là phán quyết của trọng tài được tuyên ở lãnh thổ của quốc gia khác với quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài đó. Ngoài ra, phán quyết của trọng tài cũng được xem là phán quyết của trọng tài nước ngoài nếu nó được coi là phán quyết của trọng tài nước ngoài (không phải là phán quyết của trọng tài trong nước) tại quốc gia mà phán quyết được yêu cầu công nhận và thi hành. Tuy nhiên chỉ có các phán quyết trọng tài xuất phát từ tranh chấp giữa các cá nhân, pháp nhân mới trở thành đối tượng được Công ước điều chỉnh.

Thứ hai, quyền của các quốc gia thành viên

Theo Điều 1 của Công ước, bất kỳ quốc gia thành viên nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại, tuyên bố rằng quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật của Quốc gia đó.

Thứ ba, những trường hợp có thể từ chối việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở một nước thành viên của Công ước.

Các trường hợp này được nêu rất rõ ràng tại Điều V của Công ước, cụ thể như sau:

- Các bên của thỏa thuận nói ở điều II, theo luật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực, hoặc thỏa thuận nói trên không có giá trị theo luật mà các bên chịu sự điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ra phán quyết; hoặc

- Nếu bên phải thi hành phán quyết không được thông báo thích đáng về việc chỉ định trọng tài viên hay về tố tụng trọng tài hoặc do một nguyên nhân gì khác không thể trình bày vụ việc của mình; hoặc

-  Phán quyết giải quyết một tranh chấp không được dữ liệu trong các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng tài giải quyết hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc phán quyết trọng tài gồm các phán quyết về các vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu xét xử bằng trọng tài, tuy nhiên, nếu các phán quyết về các vấn đề được yêu cầu xét xử bằng trọng tài có thể tách rời khỏi các phán quyết về các vấn đề không được yêu cầu, thì phần của phán quyết trọng tài gồm các phán quyết về vấn đề được yêu cầu có thể được công nhận và thi hành; hoặc

- Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước nơi tiến hành trọng tài; hoặc

- Phán quyết chưa có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, hoặc bị hủy hay đình hoãn bởi cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc theo luật của nước nơi phán quyết được lập.

Việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài còn có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của nước nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu cho rằng:

-  Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó; hoặc

-  Việc công nhận và thi hành phán quyết sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó.

 3. Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết của trọng tài nước ngoài

Theo pháp luật Việt Nam thì:

 - Khoản 10 điều 3 Luật trọng tài thương mại phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài và khoản 2 Điều 424 BLTTDS năm 2015 quy định ”Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành”

- Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam (khoản 11 Điều 3 Luật TTTM).

- Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn (khoản 12 Điều 3 Luật TTTM).

- Phán quyết của trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có “hiệu lực pháp luật” như quyết định của Tòa án của Việt Nam có hiệu lực pháp luật.

 Theo quan niệm của Điều 342(2) BLTTDS 2004 thì phán quyết của quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của trọng tài nước ngoài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động. Quan niệm về việc sử dụng khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài thay vì khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài từ Pháp lệnh 1995 vẫn được giữ nguyên khi ban hành BLTTDS 2004. 

 Có thể thấy rằng khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài của BLTTDS 2004 vừa rộng hơn nhưng lại cũng vừa hẹp hơn nếu so với Pháp lệnh 1995. Khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài trong khuôn khổ của BLTTDS 2004 bao hàm luôn các các phán quyết nhằm giải quyết các tranh chấp lao động, trong khi Pháp lệnh 1995 chỉ điều chỉnh các phán quyết về thương mại. Ngược lại, BLTTDS 2004 chỉ điều chỉnh hai trường hợp là (i) và (iii) trong bốn trường hợp được Pháp lệnh 1995 dự liệu (bao gồm phán quyết do trọng tài nước ngoài lập ngoài lãnh thổ Việt Nam và phán quyết do trọng tài nước ngoài lập trong lãnh thổ Việt Nam).

Khi Tòa án được yêu cầu công nhận phán quyết trọng tài, Tòa án không chỉ được yêu cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán quyết, mà còn phải đảm bảo phán quyết đó được thi hành. Bộ Luật TTDS quy định rằng phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật. (Điều 427 BLTTDS).

Do vậy, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết của trọng tài nước ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do Tòa án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của phán định trọng tài nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.

4. Điều kiện công nhận và thi hành phán quyết nước ngaofi theo quy định của Việt Nam.

Phán quyết của trọng tài nước ngoài không được định nghĩa theo Luật Việt Nam, nhưng điều kiện để công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài vẫn được quy định tại Điều 424 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:

“1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;

b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.

2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.

3. Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam.”

Để phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam, phán quyết đó phải thỏa mãn được hai điều kiện lớn là về quốc gia của trọng tài ban hành phán quyết và về tính chất của phán quyết.

Đầu tiên, để phán quyết của trọng tài nước ngoài được xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, thì nước đó phải cùng là thành viên của điều ước quốc tế với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tức là, các nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế với Việt Nam, thì phán quyết của các trọng tài thương mại ở các nước đó mới được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Thứ hai, nếu trọng tài nước ngoài mà nước đó không phải là thành viên của điều ước quốc tế cùng với Việt Nam, thì việc xem xét phán xét của trọng tài nước ngoài này sẽ dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Nguyên tắc có đi có lại là một nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, theo đó một quốc gia sẽ dành chế độ pháp lý nhất định, có thể là chế độ đãi ngộ quốc gia hoặc chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hay một số quyền lợi nào đó cho thể nhân và pháp nhân một nước ngoài giống như chế độ pháp lý, những quyền lợi hoặc ưu đãi mà các thể nhân và pháp nhân của nước này cũng được hưởng ở nước ngoài đó. Đối với các nước không có cùng điều ước quốc tế với Việt Nam, việc áo dụng nguyên tắc này là một công cụ nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân và pháp nhân của mình ở nước ngoài, không để người dân của nước mình bị luật pháp những nước đó chèn ép, bắt buộc.

Luật Minh Khuê (Biên tập & Sưu tầm)