1. Phán quyết của tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc
- Trong đời sống quốc tế, tồn tại nhiều loại Tòa án khác nhau như : Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc, Tòa án Liên minh Châu Âu, Tòa án Luật biển... Tuy nhiên, khi nói đến phán quyết của Tòa án với vai trò là nguồn bổ trợ của Luật Quốc tế, chúng ta chủ yếu đề cập đến các phán quyết của TACLQT. - Trong học thuyết về Luật quốc tế ở phương Tây thường có quan điểm đề cao quá mức vai trò của các quyết định của tòa án và trọng tài, xuất phát từ việc đề cao vai trò của án lệ đã kiên trì quan điểm cho rằng phán quyết của Tòa án là nguồn của Luật quốc tế vì chứa đựng quy phạm pháp luật. Lập luận này đã trái với Điều 38 của Quy chế Tòa án Liên hợp quốc, rằng “ phán quyết của tòa án được coi là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp luật” - Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế, việc xác định quy tắc xử sự nào đó là quy phạm tập quán thật rất khó khăn phức tạp vì nó không được ghi nhận chính thức trong một văn kiện pháp lý nào. Trong khi đó các quốc gia khi đưa tranh chấp ra giải quyết trước Tòa án quốc tế thường yêu cầu Tòa chỉ ra các quy phạm pháp lý ràng buộc mình (cả QPĐƯ và QPTQ )
- Thực tiễn cho thấy có nhiều QPĐƯ và QPTQ do TACLQT viện dẫn, chỉ rõ trong phán quyết của mình và được coi là cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp ở các vụ việc sau. Như vậy, theo Quy chế của mình, TACLQT khi giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia có quyên áp dụng các phán quyết trước đó của Tòa với tư cách là phương tiện để xác định rõ quy phạm luật quốc tế liên quan đến các bên tranh chấp, giúp cho việc đưa ra các quyết định mới một cách đúng đắn. Trong thực tiễn hoạt động của mình, Tòa án không chỉ xác nhận sự tồn tại thực tế của tập quán quốc tế mà còn đưa ra nhiều định nghĩa và nguyên tắc mới, trở thành cơ sở của Luật tập quán và luật điều ước. -Như vậy, mặc dù phán quyết của TACLQT có vai trò và ý nghĩa to lớn trong quá trình hình thành và phát triển của luật quốc tế cũng như trong thực tiễn quan hệ quốc tế, chúng ta vẫn khẳng định rằng các phán quyết của Tòa không phải là nguồn của luật quốc tế. Không được coi là nguồn của vì tự bản thân các phán quyết của Tòa không sinh ra quy phạm pháp lý có giá trị bắt buộc các chủ thể phải tuân theo. Các quyết định này chỉ là phương tiện hỗ trợ cần thiết để xác định sự đúng sai của các quốc gia khi áp dụng quy phạm luật quốc tế cụ thể nào đó. Nói cách khác, phán quyết của TACLQT chỉ là phương tiện để giải thích một cách chính xác và bảo vệ sự đúng đắn của quy phạm luật quốc tế. Đồng thời các phán quyết lại là phương tiện hỗ trợ để chỉ rõ, xác định sự tồn tại thực tế của quy phạm tập quán quốc tế
Phán quyết của tòa án công lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng QPĐƯ và QPTQ
Trong thực tiễn hoạt động của Tòa đã có 148 vụ tranh chấp được đưa ra trước Tòa (tính đến tháng 6 năm 2010), Trong số đó có khoảng 120 vụ tranh chấp đã được Tòa phân xử. trong số 148 vụ tranh chấp mà tòa có thẩm quyền giải quyết, 1/3 thông qua điều khoản thỏa thuận trong điều ước quốc tế, 1/3 qua cơ chế tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa và 1/3 theo cơ chế chấp nhận thẩm quyền của tòa theo từng vụ việc. nhiều phán quyết của TACLQT đã có ý nghĩa rất quan trọng, nó không chỉ dàn xếp được tranh chấp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng QPĐƯ và QPTQ. Sau đây em xin đi chứng minh bằng các phán quyết của Tòa qua một số vụ kiện thực tế.
2. Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ
Các văn kiện của tổ chức quốc tế liên chính phủ có giá trị hiệu lực không đồng nhất, bao gồm các nghị quyết có hiệu lực bắt buộc và nghị quyết không bắt buộc đối với các thành viên. Rất nhiều nghị quyết của tổ chức quốc tế là kết quả của thoả thuận giữa các thành viên. Quá trình thoả thuận này diễn ra trên cơ sở quy chế tương ứng của tổ chức và đưa đến kết quả là hình thành các nghị quyết có tính chất khuyến nghị (loại trừ những nghị quyết bắt buộc của tổ chức đó).
Vai trò điều chỉnh thực tế của loại nghị quyết có tính khuyến nghị thể hiện ở một số nội dung, chẳng hạn, có ý nghĩa đối với việc giải thích và áp dụng các quy phạm luật quốc'tế hoặc tạo tiền đề cho việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Những nghị quyết có giá trị bắt buộc sẽ là nguổn luật được viên dẫn đến để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên của tổ chức dó.
3.Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
Đây là sự độc lập thể hiện ý chí của một chủ thể luật quốc tế, Đó là các hành vi pháp luật có tính chất quốc tế về cả hai phương diện hình thức và nội dung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, có mục đích tạo ra các kết quả nhất định trong các quan hệ quốc tế. Hành vi pháp lý đơn phương của chủ thể thường có một số dạng sau:
- Hành vi công nhận là hành vi thổ hiện một cách minh thị hay mặc thị ý định xác nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó là phù hợp với pháp luật (ví dụ, hành vi công nhận quốc gia mới).
- Hành vi cam kết là hành vi tạo ra các nghĩa vụ mới bằng cách thức đơn phương chấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tê' vì quyền lợi của chủ thể khác (ví dụ, Tuyên bố của chính phủ Ai Cập năm 1957 về việc cho tàu thuyền qua lại tự do trên kênh đào Xuy Ê).
- Hành vi phản đối là cách thức để quốc gia thể hiên ý chí không công nhận một hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sự của chủ thể khác. Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi phản đối muốn thông qua phương thức này hoặc để bảo đảm các quyền hạn bị đe dọa hay bị xâm hại của mình, hoặc để chống lại cách suy diễn thái độ im lặng với nghĩa đồng ý hay với nghĩa từ bỏ quyền của một chủ thể trong quan hệ quốc tế. Lưu ý rằng, hành vi phản đối phải được bày tỏ minh thị và phải có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quan hệ quốc tê' thực hiện, ví dụ, những tuyên bố phản đồi do bộ ngoại giao một quốc gia thực hiện khi có hành vi vi phạm luật quốc tế từ một quốc gia khác.
- Hành vi từ bỏ là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ các quyền hạn nhất định. Kết quả của hành vi này là việc chấm dứt các quyền của chủ thể luật quốc tế đối với một đối tượng hay lĩnh vực nào đó và bắt buộc phải thực hiện hành vi từ bỏ một cách minh thị, công khai để không gây ra sự nghi ngờ. Vì vậy, không được suy diễn việc một chủ thể do không thực hiện một quyền nhất định của mình nên đã bị coi là từ bỏ quyền chủ thể.
4. Các học thuyết về luật quốc tế
5. Vấn đề pháp điển hóa Luật quốc tế
Pháp điển hoá luật quốc tế được hiểu là việc hệ thống hoá các quy phạm luật quốc tế do các chủ thể luật quốc tế thực hiện không chỉ với mục đích sắp xếp các quy phạm của luật quốc tế hiện hành vào một hệ thống phù hợp mà còn nhằm diễn đạt rõ ràng, cụ thể hơn hệ thống quy phạm đó hoặc thể hiện các tập quán quốc tế dưới hình thức điều ước quốc tế.
Trong điều kiên phát triển luật quốc tế như hiện nay thì việc pháp điển hoá không chỉ giới hạn ở hoạt động pháp lý nêu trên mà còn có sự ràng buộc với những thay đổi cần thiết hoặc với sự đổi mới các quy phạm hiện hành, kể cả việc soạn thảo quy phạm mới, tức là có thể quan niệm pháp điển hoá song hành với quá trình phát triển tiến bộ của luật quốc tế. Pháp điển hoá có thể tiến hành một cách chính thức hoặc không chính thức.
Pháp điển hoá chính thức
Là cách thức thực hiện thông qua điều ước quốc tế. Đây là loại hình pháp điển hoá duy nhất có hiệu lực ràng buộc các quốc gia. Liên hợp quốc với cơ quan chuyên ngành của tổ chức này là ủy ban luật quốc tế được thành lạp năm 1947 có vai trò đặc bỉệt quan trọng trong lĩnh vực pháp điển hoá. Hiến chương Liên hợp quốc quy định thẩm quyển đặc biệt của Đại hội đồng trong lĩnh vực này tại Điều 13. Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nhiệm vụ pháp điển hoá và phát triển tiến bộ còn được các cơ quan chức năng và một số ủy ban khác của Liên hợp quốc thực hiện, như ủy ban Liên hợp quốc về quyền con người, Úy ban về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình... Ngoài ra, còn có sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế chuyên môn của Liên hợp quốc (như ICAO, IMO...) và các tổ chức quốc tế khác ngoài hê thống Liên hợp quốc.
Trình tự tiên hành pháp điển hoá chinh thức như sau:
Sau khi thông qua đề tài pháp điển hoá, úy ban luật quốc tế của Liên hợp quốc sẽ chỉ định báo cáo viên của mình để chuẩn bị các tham luận và các dự thảo sẽ đưa ra thảo luận tại Úy ban. Dự thảo sau khi được úy ban thông qua sẽ được trình cho các quốc gia để họ đưa ra nhận xét, đánh giá độc lập. Tiếp theo, ủy ban sẽ chỉnh sửa dựa trên những đánh giá của các quốc gia và đệ trình dự thảo đã chỉnh sửa lên Đại hội đồng Liên hợp quốc, ủy ban luật quốc tế của Liên hợp quốc đã thực hiện được nhiều việc trong lĩnh vực này, chẳng hạn, một số dự thảo của ủy ban này dã trở thành cơ sở của các điểu ước quốc tế như 4 Công ước về Luật biển thông qua năm 1958, Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao
Pháp điển hoá không chính thức
Được thực hiện bởi các học giả, các viện nghiôn cứu của quốc gia, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức xã hội trong nước. Trong số này, Hiệp hội luật quốc tế và Viện luật quốc tế có vai trò, ảnh hưởng quan trọng đối với quá trình pháp điển hoá và phát triển tiến bộ luật quốc tế bàng phương thức tiến hành các hoạt động nghiên cứu và chuẩn bị dự thảo các điều ước quốc tế về các lĩnh vực khác nhau của luật quốc tê' và quan hệ quốc tế. Hiệp hội luật quốc tế được thành lập năm 1873, có trụ sở đóng tại Luân Đôn còn Viện luật quốc tế cũng được thành lập năm 1873, trụ sở đóng tại Brucxen (Bỉ).
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)