1. Cơ sở để ra quyết định trọng tài

Để có thể đưa ra phán quyết trọng tài pháp luật trọng tài trên thế giới hầu như đều quy định trong quyết định của hội đồng trọng tài cần nêu rõ cơ sở (căn cứ), lý do để ra quyết định trọng tài trừ khi các bên thỏa thuận không đưa căn cứ này vào quyết định trọng tài.

Quyết định trọng tài có ba loại

- Quyết định từng phần và quyết định tạm thời

- Quyết định do các bên thỏa thuận

- Quyết định cuối cùng hay còn gọi là phán quyết

Việc nêu ra căn cứ đưa ra quyết định sẽ đảm bảo được rằng quyết định trọng tài luôn rõ ràng, đặc biệt đặt trong bối cảnh quyết định trọng tài bị tòa án xem xét về hiệu lực pháp lý (xem có hủy hay không hoặc xem có công nhận và cho thi hành hay không?). Những tòa án có thể lạm dụng quy định này để xem xét lại nội dung vụ việc trọng tài với lý do xem xét cơ sở ra quyết định trọng tài đã được nêu đầy đủ chưa (trong khi việc này pháp luật lại không cho phép). Việc nêu ra căn cứ ra quyết định trọng tài cũng được quy định theo luật trọng tài các nước cụ thể tại Khoản 2 Điều 31 Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định:

“Trừ khi các bên thoả thuận rằng không nêu lý do hoặc quyết định là quyết định về các điều khoản được thoả thuận theo Điều 30, quyết định phải nêu rõ lý do làm căn cứ để quyết định”.

Luật Trọng tài Anh 1996 cũng quy định trong khoản 4  Điều 52 rằng:

“Phán quyết trọng tài cần phải nêu rõ lý do, trừ trường hợp các bên thoả thuận bỏ qua điều đó”.

Tại Hoa Kỳ, các bang Califomia, Connecticut, Oregon và Texas, pháp luật về trọng tài các bang Califomia, Connecticut, Oregon và Texas, pháp luật về trọng tài 

cũng có cách tiếp cận như khoản 2 Điều 31 của Luật Mẫu. Tiếp thu pháp luật trọng tài trên thế giới đặc biệt là Luật Mau, điểm đ khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài

Thương mại năm 2010 của Việt Nam quy định phán quyết trọng tài phải nêu: "Căn cứ để ra phán quyết, trừ khi các bên có thoả thuận không cần nêu căn cứ trong phán quyết."

Quyết định cuối cùng của trọng tài là phán quyết về giải quyết tranh chấp, phán quyết này theo Điều 60 Luật Trọng tài thương mại 2010, nguyên tắc ra phán quyết được quy định như sau:

- Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số.

- Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.

2. Hiệu lực của phán quyết trọng tài.

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 60 Luật TTTM năm 2010 quy định: “Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành“. Phán quyết của trọng tài là chung thẩm nên tranh chấp đã được giải quyết sẽ không được xem xét lại bởi bất kỳ một cấp hoặc cơ quan xét xử nào khác (trừ trường hợp hủy phán quyết trọng tai theo quy định pháp luật). Phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, tuy nhiên do phán quyết trọng tài quy định thời hạn thi hành phán quyết, nên bên được thi hành phán quyết trọng tài chỉ được yêu cầu cưỡng chế thi hành phán quyết đó sau khi thời hạn thi hành phán quyết kết thúc mà bên bị thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.

Các bên tham gia trọng tài có nghĩa vụ thi hành phán quyết trọng tài. Nếu một bên không tự nguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thi hành phán quyết. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước tương tự như đối với thi hành bản án của tòa án quốc gia.

Để phán quyết trọng tài có hiệu lực thì quy định phán quyết trọng tài phải được đăng ký tại tòa án địa phương nơi phán quyết trọng tài được tuyên trong một khoảng thời gian ngắn sau khi phán quyết được tuyên hoặc phải phụ thuộc vào một lệnh công bố có hiệu lực của toà án. Tuy nhiên một số nước khác lại quy định mở hơn cụ thể: quyết trọng tài có hiệu lực thi hành ngay sau khi tuyên mà không bắt buộc phải đăng ký phán quyết tại tòa án hay chờ một lệnh công bố phán quyết có hiệu lực của toà án.

Chẳng hạn, khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài Thưomg mại nãm 2010 của Việt Nam quy định: "Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành." Và khoản 1 Điều 66, Điều 67 Luật này quy định trong trường hợp hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Tức là được thi hành như phán quyết có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, đốivới phán quyết của trọng tài vụ việc thì mặc dù khoản 1 Điều 62 không quy định bắt buộc phải đăng ký phán quyết trọng tài tại tòa án (tùy thuộc vào mong muốn của một hoặc các bên tranh chấp) thì phán quyết trọng tài mới có hiệu lực nhưng khoản 2 Điều 66 quy định phán quyết trọng tài vụ việc chỉ được thi hành sau khi phán quyết đã được đăng ký tại tòa án.

Hội đồng trọng tài không nên ban hành phán quyết chung thẩm cho đến khi cảm thấy hài lòng để thực sự hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nếu vẫn còn các vấn đề chưa được giải quyết, thì nên ban hành một phán quyết biểu thị rõ ràng rằng, đây là một phán quyết từng phần. Loại phán quyết này là một cách thức hiệu quả nhằm quyết định các vấn đề có thể giải quyết dễ dàng trong quá trình tố tụng trọng tài, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên. Thẩm quyền ban hành phán quyết từng phần của hội đồng trọng tài có thể xuất phát từ thỏa thuận trọng tài hoặc từ pháp luật áp dụng. Trên thực tế, phán quyết từng phần thường xuyên được lập trong các vụ việc tại ICC (Quy tắc của Phòng Thương mại Quốc tế), đặc biệt trong trường hợp thẩm quyền bị phản đối hoặc hội đồng trọng tài phải xác định pháp luật phù hợp.

Một ví dụ về trường hợp mà phán quyết từng phần có thể hữu ích, chẳng hạn như khi có tranh chấp giữa các bên về luật áp dụng cho nội dung tranh chấp. Nếu tranh chấp này không được giải quyết dứt điểm ở giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, các bên có thể tìm căn cứ cho vụ việc của mình bằng cách dẫn chiếu đến các hệ thống pháp luật khác nhau. Thậm chí các bên có thể phải đưa ra chứng cứ là lời giải thích của các luật sư có kinh nghiệm. Trong các trường hợp này, hội đồng trọng tài thường nhận thấy việc đưa ra quyết định sơ bộ về luật áp dụng là cần thiết. Tuy nhiên, sẽ xuất hiện những rủi ro trên thực tế khi cố gắng phân tách các vấn đề cần quyết định vào giai đoạn đầu của quá trình tố tụng trọng tài. Bản chất của vụ tranh chấp và cách thức các bên trình bày vụ việc có thể thay đổi trong quá trình tố tụng trọng tài.

Phán quyết trọng tài vẫn có thể bị hủy theo quy định của pháp luật. Bên có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có đơn theo mẫu và được Tòa án có thẩm quyền ra quyết định hủy phán quyết

3. Hủy phán quyết trọng tài.

3.1. Tình trạng hủy phán quyết tại Việt Nam.

Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp được nêu trong đơn kiện, làm chấm dứt tố tụng trọng tài và có giá trị chung thẩm ràng buộc đối với các bên. Theo thông lệ quốc tế, hủy phán quyết trọng tài là một thủ tục pháp lý do Tòa án thực hiện nhằm xem xét lại phán quyết trọng tài được ban hành có tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xét xử của trọng tài thương mại theo luật định. Một trong các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại phán quyết trọng tài nếu có đủ căn cứ chứng minh rằng, Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật. Việc hủy phán quyết trọng tài cũng phải tuân theo trình tự và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Tính đến hết tháng 01/2019, toàn quốc hiện có 23 Trung tâm trọng tài thương mại với số trọng tài viên là trên 460 người và được phân bố không đồng đều tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đắk Lắk. Số vụ việc tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại có xu hướng tăng lên (khoảng gần 500 vụ/năm 2018) nhưng vẫn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu thực tiễn, chiếm chưa đến 1% trên tổng số vụ tranh chấp thương mại được Tòa án thụ lý, xét xử hàng năm. Trong khi đó, những năm gần đây, tranh chấp quốc tế đang có xu hướng giảm, ngược lại tranh chấp trong nước hiện chiếm khoảng 70% và có xu hướng gia tăng, nhất là ở các doanh nghiệp FDI

Việc số lượng phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy có xu hướng tăng khiến cho không chỉ cộng đồng doanh nghiệp hoang mang, mà ngay chính các trọng tài viên cũng “đứng ngồi không yên”. Do tình trạng số lượng phán quyết trọng tài bị hủy cao, khiến các trọng tài viên lo lắng việc “xử mà không biết phán quyết có bị hủy hay không”. Đây là thực trạng cần khắc phục, vì bản chất Luật Trọng tài thương mại năm 2010 là tạo hành lang pháp lý cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển, nhưng thực tế thì đang đi ngược lại do số phán quyết trọng tài bị tuyên hủy, thậm chí còn nhiều hơn so với giai đoạn trước.

3.2. Trường hợp nào được hủy phán quyết trọng tài?

Căn cứ Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, huỷ phán quyết trọng tài được quy định như sau:

- Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên.

- Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

+ Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;

+ Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

+ Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

+ Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

- Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nghĩa vụ chứng minh được xác định như sau:

+ Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp đó;

+ Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.

3.3. Ai có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài?

Sau khi hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài (quyết định cuối cùng về toàn bộ vụ việc của hội đồng trọng tài), các bên phải có nghĩa vụ thi hành. Nếu một bên không tự nguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành phán quyết. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cưỡng chế thi hành phán quyết đó. Tuy nhiên, nếu có đơn yêu cầu của một bên về việc hủy phán quyết trọng tài thì Tòa án sẽ xem xét. Trong trường họp này việc thi hành phán quyết trọng tài phải dừng lại cho đển khi tòa án ra quyết định rõ ràng về việc có hủy phán quyết trọng tài hay không. 

Theo Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010, quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài được quy định như sau:

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp.

- Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Như vậy, các bên trong tranh chấp thương mại có quyền gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu hủy phán quyết của Hội đồng trọng tài, tuy nhiên cần lưu ý đến chứng cứ chứng minh phán quyết này không đúng.

Muốn hủy phán quyết trọng, người yêu cầu phải làm đơn theo quy định tại Điều 70 Luật Trọng tài thương mại 2010.

- Đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

+ Ngày, tháng, năm làm đơn;

+ Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu;

+ Yêu cầu và căn cứ huỷ phán quyết trọng tài.

- Kèm theo đơn yêu cầu phải có các giấy tờ sau đây:

+ Bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ;

+ Bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ.

Giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ.

Luật Minh Khuê (Biên tập và Sưu tầm)