1. Phán quyết trọng tài được lập theo nguyên tắc nào?
Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.
Nguyên tắc đa số được quy định rõ ràng tại khoản 1 Điều 60 Luật trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM 2010), theo đó khi ban hành phán quyết trọng tài, các thành viên HĐTT sẽ biểu quyết và phán quyết sẽ được lập dựa trên đa số phiếu. Phán quyết đa số sẽ là phán quyết có hiệu lực ràng buộc đối với các Bên tranh chấp. Điều 60 còn dự liệu trong trường hợp biểu quyết không đạt được đa số với việc quy định tại khoản 2 rằng phán quyết sẽ được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Như vậy, nguyên tắc “biểu quyết” đa số theo Điều 60 LTTTM còn có thể hiểu thêm rằng mỗi trọng tài viên được các bên chỉ định sẽ có 1 “phiếu”, và chủ tịch Hội đồng sẽ có hơn “1 phiếu” trong quá trình biểu quyết.
Điều 29, Luật Mẫu UNCITRAL Trong tố tụng trọng tài gồm nhiều trọng tài viên, nếu các bên không có thoả thuận nào khác, việc quyết định của Hội đồng trọng tài theo nguyên tắc đa số của các thành viên trong hội đồng. Tuy nhiên, vấn đề về tố tụng có thể được quyết định bởi Chủ tịch Hội đồng nếu được các bên và các thành viên khác của ủy ban trọng tài ủy quyền
Theo Điều 31 Quy tắc VIAC, trong trường hợp Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên, Phán quyết trọng tài và các Quyết định của Hội đồng Trọng tài được lập theo nguyên tắc đa số. Nếu không đạt được đa số, Phán quyết trọng tài và các Quyết định của Hội đồng Trọng tài được quyết định bởi Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.
2. Các loại phán quyết, quyết định của trọng tài.
2.1. Phán quyết từng phần và phán quyết tạm thời
Phán quyết từng phần là loại phán quyết khi vẫn còn các vấn đề chưa được giải quyết, thì trọng tài ban hành một phán quyết biểu thị rõ ràng rằng, đây là một phán quyết từng phần. Loại phán quyết này là một cách thức hiệu quả nhằm quyết định các vấn đề có thể giải quyết dễ dàng trong quá trình tố tụng trọng tài, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên.
Đây là loại quyết định được hội đồng trọng tài đưa ra để giải quyết một vấn đề cụ thể trong quá trình trọng tài trước khi ban hành quyết định cuối cùng về toàn bộ tranh chấp. Đó cũng có thể là vấn đề liên quan đến thủ tục trọng tài nhưng cũng có thể là vấn đề thuộc nội dung tranh chấp.
Trên thực tế, hội đồng trọng tài còn có thể đưa ra một số quyết định khác nhưng thường được xem là các lệnh mang tính thủ tục như quyết định bổ nhiệm, thay đổi trọng tài viên, quyết định lựa chọn chuyên gia phục vụ việc xác minh chứng cứ, quyết định nộp một khoản tiền bảo lãnh nghĩa vụ cho bên yêu cầu thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc ban hành các quyết định từng phần hay tạm thời có thể xảy ra ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng trọng tài song hội đồng trọng tài cũng có thể đưa ra quyết định giải quyết tất cả các vấn đề trong cùng một quyết định cuối cùng. Điều này phụ thuộc vào lợiích có được khi đưa ra các quyết định ấy và yêu cầu của các bên tranh chấp.
Trừ những quyết định liên quan tới nội dung tranh chấp sẽ có tính chung thẩm, những quyết định liên quan tới thủ tục trọng tài vẫn có thể bị kháng cáo ra trước tòa án quốc gia. Trong trường hợp này tố tụng trọng tài có thể bịảnh hưởng do phải phụ thuộc vào quyết định cuôi cùng của tòa án quốc gia.
2.2. Quyết định theo thỏa thuận các bên.
Điều 30 Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định:
“1. Trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, các bên thoả thuận được về tranh chấp, hội đồng trọng tài chấm dứt tố tụng và nếu các bên có yêu cầu và hội đồng trọng tài không phản đối, hội đồng trọng tài ghi nhận sự thoả thuận đó dưới hình thức phán quyết trọng tài về các nội dung đã thoả thuận.
2. Phán quyết về điều kiện được thoả thuận được lập theo quy định tại Điều 31 và được khẳng định là một phán quyết. Phán quyết này có hiệu lực như các phán quyết khác về nội dung vụ kiện."
Theo Khoản 1 Điều 32 Quy tắc VIAC, Phán quyết trọng tài phải được lập bằng văn bản và có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập Phán quyết trọng tài;
b) Tên, địa chỉ của Nguyên đơn và Bị đơn;
c) Tên của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất;
d) Tóm tắt Đơn khởi kiện và các vấn đề tranh chấp; tóm tắt Đơn kiện lại và các vấn đề tranh chấp (nếu có);
đ) Căn cứ lập Phán quyết trọng tài, trừ khi các bên thỏa thuận không cần nêu căn cứ trong Phán quyết trọng tài;
e) Kết quả giải quyết vụ tranh chấp;
g) Thời hạn thi hành Phán quyết trọng tài;
h) Phân bổ phí trọng tài và các chi phí khác có liên quan;
i) Chữ ký của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất.
Trong quá trình thỏa thuận, đôi khi các bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc rút đơn yêu cầu khởi kiện, lúc này trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài.
2.3. Quyết định cuối cùng
Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp thương mại và chấm dứt tố tụng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp. Phán quyết này của trọng tài là chung thẩm tức là các bên không có quyền kháng cáo, các bên chỉ có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai trong phán quyết nhưng phải thông báo ngay cho bên kia biết
Trường hợp Hội đồng trọng tài thấy yêu cầu này là chính đáng thì phải sửa chữa trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài giải thích về điểm cụ thể hoặc phần nội dung của phán quyết nhưng phải thông báo ngay cho bên kia. Nếu Hội đồng trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng thì phải giải thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nội dung giải thích này là một phần của phán quyết, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ban hành phán quyết, Hội đồng trọng tài có thể chủ động sửa những lỗi quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Trọng tài thương mại và thông báo ngay cho các bên, trường hợp các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể gia hạn việc sửa chữa, giải thích hoặc ra phán quyết bổ sung. Để có thể thi hành phán quyết trọng tài hiệu quả Hội đồng trọng tài cần tránh sai sót trong việc đánh giá tài liệu hồ sơ chứng cứ, thiếu thống nhất giữa phần xem xét, nhận định và quyết định.
Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 của Việt Nam quy định phán quyết trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý (khoản 1 Điều 61) và phải có chữ ký của các trọng tài viên. Nếu có trọng tài viên không ký vào phán quyết trọng tài thì chủ tịch hội đồng trọng tàiphải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực (khoản 2 Điều 61).
Nội dung của phán quyết trọng tài cũng có thể khác nhau theo pháp luật mỗi nước song về cơ bản đều phải có những chi tiết chính sau đây:
- Thời gian và địa điểm lập phán quyết
- Tên đầy đủ và địa chỉ (nơi cư trú) của các bên tranh chấp
- Tên đầy đủ và địa chỉ (nơi cư trú) của trọng tài viên trong hội đồng trọng tài
- Tóm tắt đơn khởi kiện và các vấn đề tranh chấp; tóm tắt đơn kiện lại (nếu có)
- Cơ sở (căn cứ) để ra phán quyết, trừ khi các bên có thoả thuận không cần nêu cơ sở trong phán quyết
- Kết quả giải quyết tranh chấp
- Thời hạn thi hành phán quyết trọng tài
- Phân bổ chi phí trọng tài và các chi phí khác có liên quan
- Chữ ký của trọng tài viên (nếu không ký thì phải nêu rõ lý do)
Luật Minh Khuê (Phân tích&Tổng hợp)