1. Khái niệm công phiếu kháng chiến 

Công phiếu kháng chiến là một loại công trái, là giấy nhận nợ của Nhà nước, xác nhận khoản nợ và nghĩa vụ trả nợ của Nhà nước đối với người sở hữu.

Công phiếu kháng chiến được Chính phủ phát hành theo Sắc lệnh số 166 ngày 11.4.1948 nhằm 2 mục đích: huy động tiển nhàn rỗi trong nhân dân, phục vụ công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc bấy giờ và có giá trị như một thứ tiền dự trữ, Khi cần thiết, trong trường hợp mối liên lạc giữa Chính phủ trung ương và Uÿ ban kháng chiến hành chính của các địa phương bị đứt, thì Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương có thể ra lệnh lưu hành công phiếu kháng chiến như giấy bạc. Do vậy, công phiếu kháng chiến có điểm đặc biệt là nó không chỉ đơn thuần là một loại công trái, một thứ giấy nhận nợ mà còn có thể trở thành tiền lưu hành khi cần thiết.

Công phiếu kháng chiến có lãi suất 3%/năm, thời hạn trả lãi 5 năm. Dự kiến phát hành 500 triệu đồng (quy thóc là 40.000 tấn). Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, việc tuyên truyền, vận động chưa tốt, người dân phần lớn lại nghèo nên việc bán công phiếu kháng chiến kéo dài đến hết năm 1949 cũng chỉ đạt khoảng 40% so với dự kiến phát hành, bằng 46.200 tấn thóc.

2. Nguyên tắc thanh toán nợ dân

Trong thời gian cách mạng và kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước đây, Nhà nước ta đã có nhiều hình thức vay hoặc mượn của nhân dân để bảo đảm cung cấp cho công cuộc chiến đấu giành được thắng lợi; đến nay, Nhà nước trả lại những khoản nhà nước còn nợ dân trong thời kỳ kháng chiến.

2.1  Nguyên tắc thanh toán nợ dân 

Trong thời gian cách mạng và kháng chiến chống Pháp,  chống Mỹ trước đây, Nhà nước ta đã có nhiều hình thức vay hoặc mượn của nhân dân để bảo đảm cung cấp cho công cuộc chiến đấu giành được thắng lợi; đến nay, Nhà nước trả lại những khoản Nhà nước còn nợ dân.

Những khoản nhân dân đã đóng góp theo nghĩa vụ của công dân như các khoản góp quỹ đảm bảo phụ quốc phòng, quỹ tham gia kháng chiến, quỹ công lương hoặc những khoản nhân dân quyên góp ủng hộ cách mạng như việc gây quỹ góp tiền ủng hộ Mặt trận Việt Minh, Liên Việt, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể cứu quốc,...thì không phải là những khoản Nhà nước nợ dân, nên vấn đề thanh toán không đặt ra.

Những khoản Nhà nước nợ dân bao gồm những khoản sau đây:

- Công phiếu kháng chiến phát hành các năm 1948, 1949, 1950, 1952; công trái quốc gia phát hành năm 1947, 1948; công phiếu nuôi quân năm 1946.

- Tiền hoặc lương thực cho các cơ quan Nhà nước vay để mua vũ khí, nuôi quân, nuôi cán bộ.

- Tài sản trưng thu, trưng dụng để phục vụ cho việc kháng chiến, mà chưa được Nhà nước bồi thường các khoản thiệt hại về máy móc, phương tiện vận tải, súc vật kéo, dụng cụ đồ đạc,....

- Tiền ký gửi ở các cơ quan tín dụng và Ngân hàng Nhà nước cách mạng mà chưa được rút ra. Tiền Việt kiều gửi cơ quan Nhà nước ta ở nước ngoài để chuyển về nước đến nay chưa được lĩnh ra. Tiền tín phiếu, giấy bạc Nhà nước cách mạng phát thành chưa thu đổi.

2.2 Các nguyên tắc thanh toán cụ thể 

Nguyên tắc thanh toán nợ dân được thực hiện như sau:

- Nhà nước trả nợ dân bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam, và để bảo đảm giá trị số nợ của dân, Nhà nước sẽ quy số tiền nợ ra lượng thóc theo giá lúc vay, và nay tính trả theo giá thóc, chỉ đạo thu mua trong hợp đồng hai chiều hiện hành ở nơi người có nợ cư trú. Đối với một số công phiếu công trái có qui định tính lại, thì nay trả cả vốn và lãi như qui định.

- Việc trả nợ căn cứ vào chứng từ xác định số nợ: các loại công phiếu, công trái, giấy bạc... đã phát hành chính thức theo mẫu qui định, biên lai, biên nhận, giấy vay, lệnh trưng thu, trưng dụng có chữ ký, đóng dấu của cơ quan có trách nhiệm.

Vì việc vay nợ diễn ra đã quá lâu ngày nên khâu kiểm tra các chứng từ là hết sức cần thiết và là khâu quan trọng trong quá trình xét các đơn yêu cầu thanh toán nợ. Cần làm tốt công việc kiểm tra các chứng từ để xác minh sự việc được rõ ràng. Trong phạm vi có thể làm được, nên tổ chức đối chiếu chứng từ với sổ sách giấy tờ còn lưu trữ ở địa phương, nếu có, (thí dụ: đối chiếu biên lai, gửi tiền Ty ngân khố - tín dụng sản xuất với quyển cuống (cùi) của Ty ngân khố cũ). Đối với giấy biên nhận của cá nhân, cần xét xem người đó ký giấy vay với tư cách riêng hay đại diện cho đơn vị tổ chức nào, ai có thể xác nhận việc này?

Trường hợp trước đây vì lý do giữ bí mật không tiện lập giấy vay, hoặc có giấy vay nhưng dân đã để thất lạc hay đem tiêu huỷ trong hoàn cảnh bị địch khủng bố, thì nay cần lấy xác nhận của người trong cuộc (cụ thể là đích thân người đã đi vay hoặc cán bộ có thẩm quyền quyết định việc vay) có sự chứng thực của tổ chức cơ sở nơi sở tại và được cấp chính quyền nhân dân từ huyện trở lên xác nhận. Nhưng trường hợp chứng từ không bình thường kể trên phải do Uỷ ban Nhân dân tỉnh xét quyết định việc thanh toán sau khi có ý kiến của Ban thanh toán nợ dân của tỉnh.

- Tất cả mọi công dân có các khoản nợ kể trên đều được xét thanh toán. Những người đang bị giam giữ hoặc tập trung cải tạo, những người hiện vắng mặt trong nước vì lý do chính trị thì tạm hoãn chưa xét.

- Người có nợ nếu đã chết thì người thừa kế hợp pháp được nhận tiền thanh toán. Nói chung, người thừa kế hợp pháp là bố mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con đẻ, và những người được công nhận theo pháp luật hiện hành, có Uỷ ban nhân dân huyện chứng nhận. Nếu có trường hợp tranh chấp thì phải do Toà án Nhân dân từ cấp huyện trở lêncông nhận quyền thừa kế.

- Thể thức trả tiền nợ dân: Đối với những khoản tiền dưới 500đ thì được thanh toán một lần. Đối với những khoản tiền lớn hơn thì vận động nhân dân gửi quỹ tiết kiệm và rút dần để chi tiêu, trừ trường hợp cần thiết thì thanh toán theo yêu cầu chính đáng.

- Đối với những người tự nguyện ủng hộ cách mạng thì Nhà nước ghi ơn và khen thưởng với hình thức thích đáng.

3. Các quy định cụ thể về thanh toán từng khoản nợ

3.1 Hoàn vốn và lãi các loại công phiếu, công trái 

Nói chung các trường hợp có phiếu hoặc biên lai chính thức đều được thanh toán, cụ thể như sau:

- Quy ra thóc và tính lãi:

+ Các phiếu "công trái quốc gia" đã ghi sẵn số vốn bằng thóc: đối với các loại "công phiếu kháng chiến" và "công trái Nam bộ" ghi vốn bằng tiền (không phân biệt lúc mua trả bằng tiền Việt Nam, tiền Đông Dương hay tiền tín phiếu miền Nam Trung Bộ) nay đều quy vốn ra thóc theo giá thóc từng tính trong thời gian bán phiếu, để đảm bảo quyền lợi của người mua. Bộ Tài chính sẽ gửi tiếp sau 4 bảng tính sẵn số vốn và lãi quy ra thóc của các loại công phiếu kháng chiến và công trái Nam bộ đã phát hành trong thời kỹ kháng chiến chống Pháp (theo giá thóc những năm bán phiếu ở mỗi địa phương). Riêng về "công phiếu nuôi quân" phát hành ở Nam bộ năm 1964 thì khi bán phiếu ở nơi nào đều đã có ghi giá thóc nơi đó vào mặt sau phiếu, vậy sẽ căn cứ vào giá thóc này để quy vốn công phiếu ra thóc.

+ Việc tính lãi vẫn theo tỷ lệ quy định (3% hoặc 4%) cho thời hạn 5 năm như đã ghi trên công phiếu và trên cơ sở số vốn đã quy ra thóc.

+ Căn cứ số vốn và lãi được tính thành thóc, nay thanh toán trả bằng tiền cho người có phiếu theo giá thóc Nhà nước thu mua (giá hợp đồng hai chiều) ở nơi người đó hiện cư trú.

- Việc thanh toán công phiếu ở miền Bắc: ở miền Bắc đã thanh toán/công trái và kết thúc ngày 31/12/1960. Nay còn trường hợp nào yêu cầu thanh toán và có lý do chính đáng về sự chậm chễ này thì cũng được xem xét giải quyết. Nếu chỉ xuất trình biên lai mua công phiếu để xin được thanh toán thì nhất thiết phải lấy xác nhận của nơi bán phiếu về lý do chưa giao phiếu chính thức cho người mua (để phòng trường hợp trước đây đã được lĩnh tiền theo công phiếu rồi, nay lại xuất trình biên lai để thanh toán lần nữa, vì có địa phương khi giao công phiếu cho người mua đã không thu lại biên lai).

- Việc thanh toán công phiếu ở miền Nam (kể từ Trị thiên trở vào):

+ Những trường hợp đồng bào và cán bộ tập kết có công phiếu mang ra miền Bắc đều đã được hoàn trả trước ngày 31/12/60. Nay cần tiếp tục thanh toán các công phiếu của nhân dân vùng mới giải phóng ở miền Nam theo như thể thức chung áp dụng trước đây đối với các công phiếu ở miền Bắc.

+ Ở Nam Bộ, vì hoàn cảnh bị chiếm đóng, nhiều tỉnh mới chỉ cấp biên lai tạm thời cho người mua công phiếu kháng chiến hay công trái Nam Bộ, nhưng cũng có có tỉnh đã giao phiếu chính thức cho người mua và thu lại biên lai. Do đó đối với những trường hợp xuất trình biên lai mua công phiếu để xin thanh toán thì nói chung đều được xét giải quyết như trường hợp có phiếu chính thức. Tuy nhiên, việc thanh toán theo biên lai cũng phải theo dõi cẩn thận để tránh việc theo dõi hai lần (đề phòng trường hợp có địa phương bỏ sót không thu lại biên lai khi giao công phiếu cho người mua).

+ Riêng đối với Việt kiều khi ở Thái Lan cũng có mua công phiếu kháng chiến và trả bằng tiền Thái Lan (bath) nay đã về nước và xuất trình phiếu yêu cầu thanh toán, thì không phải quy vốn (tiền) ra thóc, mà sẽ tính tiền vốn và lãi ghi trên công phiếu theo tỷ giá hối đoái đặc biệt 1 bath = 0,32đồng Ngân hàng Việt Nam. Thí dụ: 1 công phiếu loại 200đ mua ở bên Thái Lan bằng 200 bath thì nay được thanh toán:

  • Vốn 0,32đ x 200    = 64đ(  73đ60  NH/VN
  • Lãi 5 năm                            3 x 64 x 5                  =    9,60     ( 100

             

- Việc kiểm tra các công phiếu:

Cần kiểm tra kỹ các loại công phiếu; chú ý đi sâu xem xét các trường hợp sau đây:

  • Phiếu giá (không đúng mẫu mực, khuôn khổ quy định, không có chữ ký và dấu của cơ quan bán phiếu....)
  • Phiếu bị tẩy xóa tên chủ phiếu hoặc ngày, tháng, năm  mua.
  • Phiếu mới ghi ngày tháng gần đây (trường hợp lợi dụng phiếu cũ không bán hết chưa bị huỷ bỏ, nay đem ghi tên người mua hoặc ngày tháng vào để xin thanh toán).
  • Phiếu không thuộc các tổ chức cách mạng phát hành: hồi kháng chiến chống Pháp có nơi nhân dân đã mua nhầm loại phiếu này (như "Quốc gia công trái" ở Tây Ninh).
  • Phiếu quá rách nát, không thể nhận rõ loại phiếu, số tiền, ngày tháng năm mua.

3.1 Thanh toán các khoản cho Nhà nước vay, các khoản trưng thu, trưng dụng có bồi thường 

- Các khoản này đã được tiến hành chủ yếu là trong thời kỳ kháng chiến; dưới nhiều hình thức như: vay tiền để mua sắm vũ khí hoặc trả sinh hoạt phí cho cán bộ bị mất liên lạc với cơ quan, vay lương thực thực phẩm cho bộ đội mở chiến dịch, cho cán bộ có lương ăn hoạt động ở địch hậu..., các khoản trưng thu trưng dụng, nhà cửa, đồ đạc, dụng cụ, máy móc, gia súc, phương tiện vận tải vv... để phục vụ kháng chiến.

Đối với những khoản trên, nếu có đủ giấy tờ chứng minh sự việc và được cấp chính quyền từ huyện trở lên xác nhận thì được thanh toán. Chú ý giải quyết trước các trường hợp đang có nhiều khó khăn. Khi nghiên cứu các đơn xin thanh toán, các địa phương cần đi sâu, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình từng người và từng sự việc để giải quyết cho đúng đắn. Nếu có những gia đình tự nguyện ủng hộ Nhà nước để đóng góp phần của mình cho cách mạng, cho kháng chiến thì Nhà nước hoan nghênh, và có hình thức khen thưởng, ghi công thích đáng.

- Các khoản vay nợ và trưng thu, trưng dụng nói trên, không kể trước đây ghi bằng tiền tài chính, tiền tín phiếu, tiền Đông Dương hay bằng hiện vật, nay cũng đều được quy ra thóc theo giá thóc của năm và ở nơi phát sinh sự việc, để làm căn cứ thanh toán bằng tiền theo giá thóc Nhà nước thu mua hiện nay (giá thu mua theo hợp đồng hai chiều) ở nơi người có nợ cư trú.

Việc quy ra thóc các khoản nợ ghi bằng hiện vật có phần phức tạp, vì phải xác định được giá trị hiện vật bằng tiền lúc vay hay trưng thu, trưng dụng; sau đó phải căn cứ vào giá thóc ở địa phương hồi đó để quy. Cần nghiên cứu sưu tầm tài liệu về giá cả trước đây để định ra một giá hợp lý cho những hiện vật ghi trong chứng từ vay, trên tinh thần vừa đảm bảo quyền lợi của dân, vừa tính toán chặt chẽ cho công quỹ.

3.3 Thanh toán các khoản tiền của Việt kiều ở Pháp và Tân đảo gửi về nước năm 1946 và 1948:

- Đây là những số tiền Phờ-răng cũ (tiền pháp) của kiều bào gửi về nước thông qua Phái đoàn đại diện Chính phủ ta tại Pa-ri, ký nhận và cấp biên lai. Hồi năm 1955-1956, đại bộ phận kiều bào ở Pháp hồi hương về miền Bắc, đều đã được thanh toán theo biên lai. Nay sẽ tiếp tục xét giải quyết những trường hợp còn xuất trình biên lai yêu cầu thanh toán, chủ yếu là của những kiều bào khi về nước ở vùng tạm bị chiếm cũ. Khi thanh toán sẽ tính theo hồi suất chung hiện nay là 400Prs cũ = 1 Fr mới = 0,62đ Ngân hàng Việt Nam.

- Đối với những Việt kiều trước kia ở Thái Lan hay ở Cămpuchia có gửi tiền bath hay tiền riels, nhưng chưa lĩnh thì nay cũng được xét giải quyết, nếu có đủ giấy tờ hợp lệ chứng minh việc gửi tiền. Trường hợp này sẽ thanh toán theo hồi suất:

+ 1 bath=  0,206 đồng Ngân hàng Việt Nam

+ 1 riels=  0,05 đồng Ngân hàng Việt Nam

4- Thanh toán các loại tiền Việt Nam do cách mạng phát hành trong thời gian kháng chiến (áp dụng riêng cho các tỉnh phía Nam, kể từ Trị Thiên trở vào).

Hiện nay một số đồng bào vùng mới giải phóng ở miền Nam còn giữ được các loại tiền Việt Nam do Cách mạng phát hành trong thời gian kháng chiến chống Pháp, đã có đơn yêu cầu cho đổi lấy tiền Ngân hàng đang lưu hành. Để giải quyết vấn đề này, sau khi thống nhất ý kiến với Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Bộ Tài chính quy định như sau:

a) Về đối tượng có tiền Việt Nam cũ xin thanh toán:

Nơi hiện cư trú phải là vùng trước đây được phép lưu hành loại tiền mà mình yêu cầu thanh toán. Nếu đã chuyển vùng thì phải có lý do chính đáng (thí dụ: đối với người xin đổi tiền tín phiếu Liên khu 5 thì nơi hiện cư trú phải thuộc các tỉnh ở miền Nam Trung Bộ cũ, là vùng trước đây được lưu hành tiền tín phiếu; hoặc nếu đang cư trú ở vùng khác thì cần có sự xác nhận về nơi cư trú cũ là thuộc Liên khu 5).

b) Về loại tiền Việt Nam cũ được thanh toán:

Theo quy định của Nhà nước qua những lần phát hành tiền mới thay thế tiền cũ, và căn cứ tình hình đấu trang chống địch diễn biến ở các vùng tạm bị chiếm, nay chỉ thanh toán 3 loại tiền sau đây phát hành dưới chinhs thể Việt Nam dân chủ cộng hoà mà nhân dân còn giữ được và đem xuất trình để yêu cầu thanh toán:

- Giấy bạc Nam bộ

- Tín phiếu Liên khu 5

- Giấy bạc Ngân hàng quốc gia năm 1951 (thi hành riêng cho 2 tỉnh Quảng trị và Thừa Thiên cũ là nơi cũng có lưu hành loại giấy bạc này).

Đối với tiền tài chính phát hành năm 1945-1946, Nhà nước đã có chủ trương thu hồi từ trong thời gian kháng chiến chống Pháp, nên nay không giải quyết các trường hợp yêu cầu thanh toán loại tiền này.

c) Về các thanh toán:

Các loại tiền kể trên, khi chưa được thanh toán thì đem quy ra thóc theo giá thóc nơi người có tiền hiện cư trú (hoặc nơi cư trú cũ nếu là trường hợp đã chuyển vùng có lý do chính đáng) và thống nhất lấy giá thóc bình quân 6 tháng cuối năm 1954 (thời gian tập kết) ở nơi đó để quy, rồi tính trả tiền theo giá thóc Nhà nước thu mua hiện nay (giá hợp đồng hai chiều) ở nơi người được thanh toán cư trú.

Luật Minh Khuê