Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý
2. Luật sư tư vấn
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 13 nghị định 05/2015/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có thể xem xét chấm dứt hợp đồng lao động nếu có sự thay đổi về cơ cấu công nghệ hoặc vì lý do kinh tế như sau:
Điều 13. Thay đổi cơ cấu, công nghệ và lý do kinh tế
1. Thay đổi cơ cấu, công nghệ tại Khoản 1 Điều 44 của Bộ luật Lao động gồm các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động;
b) Thay đổi sản phẩm, cơ cấu sản phẩm;
c) Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.
Mặt khác, theo quy định tại điều 44 Bộ luật lao động 2012 thì trong trường hợp công ty vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ mà gây ảnh hưởng đến việc làm của người lao động thì công ty phải có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Trong trường hợp không thể sắp xếp được công việc cho người lao đông dẫn đến người lao động mất việc làm thì công ty phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định.
Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế
1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.
2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.
3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.
Khi cho người lao động nghỉ việc thì công ty sẽ phải chi trả cho người lao động một khoản trợ cấp mất việc làm tương ứng với mỗi năm làm việc bằng một tháng tiền lương, nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Theo đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc ( Căn cứ theo quy định tại điều 49 Bộ luật lao động 2012).
Xét trường hợp của bạn công ty cho bạn nghỉ việc vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ, tuy nhiên, do bạn bắt đầu làm việc cho công ty từ năm 2012, tại thời điểm đó công ty đã đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn hàng tháng theo chế độ đóng bảo hiểm xã hội của nhà nước. Do đó, sau khi bạn nghỉ việc ở công ty thì công ty không phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho bạn mà bạn sẽ được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thông qua Trung tâm hỗ trợ việc làm quận, huyện nơi bạn đang thường trú hoặc tạm trú theo quy định tại điều 50 của luật việc làm 2013.
Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động về chấm dứt hợp đồng lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê