Ngày dự sinh của em khoảng 10/8/2016 Công ty đổ lỗi cho em và bảo em không đáp ứng được công việc cuộc họp tuy đã chứng minh được lỗi đó không phải tại em nhưng Công ty ra 2 phương án : 1 là vẫn đi làm nhưng mức lương khoán gọn là 1.500.000 đ và đóng bảo hiểm theo đúng quy định, phương án 2 là cho em nghỉ chờ việc hỗ trợ 1 tháng 1050.000 đ và đóng bảo hiểm theo quy định. Thưa luật sư nếu do ép em phải chọn mà phải quyết định chọn phương án nghỉ chờ việc thì chế độ bảo hiểm như thế nào mới đúng ạ. mức lương theo hợp đồng em tốt nghiệp đại học hệ số 2,34, và mức lương hiện tại lúc trước là 4.500.000 đồng.
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.
Luật sư tư vấn luật lao động gọi số:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật Lao động năm 2012
- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
2. Nội dung tư vấn:
Theo thông tịn bạn cung cấp thì bạn đã ký hợp đồng 1 năm và ký 2 lần tại Công ty này và bạn dự sinh vào 10/8/2016 nhưng phải đến ngày 21/8/2016 mới hết hạn hợp dồng đã ký. Trong trường hợp của bạn chúng tôi có một số vấn đề cần tư vấn như sau:
Việc Công ty bắt ép bạn phải lựa chọn 1 trong 2 phương án như vậy hoặc có ý định sa thải bạn có đúng pháp luật không?. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:
Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ
3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động."
Mặc dù thông tin của bạn thấy Công ty không trực tiếp sa thải nhưng đã gây khó cho bạn trong việc buộc phải lựa chọn 1 trong 2 phương án là không đúng quy định của pháp luật. Sau buổi họp nhận thấy bạn hoàn toàn không có lỗi gì ảnh hưởng đến kinh doanh của công ty do đó việc Công ty ra quyết định như vậy là không đúng với thỏa thuận của 2 bên trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định một số quyền lợi , chế độ đối với người lao động mang tha như sau:
bạn đang mang thai
Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản
1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
……………………………………
2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.".
Ngoài ra Bộ luật lao động năm 2012 cũng quy định rõ về chế độ thai sản và bảo đảm việc làm cho người lao động nữ nghỉ thai sản.
Điều 157. Nghỉ thai sản
1. Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động.
4. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng.
Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 158. Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản
Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.".
Mức hưởng thai sản quy định tại điều 39 Luật BHXH 2014 như sau :
Điều 39. Mức hưởng chế độ thai sản
1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau:
a) Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật này là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội;
b) Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 32 và khoản 2 Điều 34 của Luật này được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày;
c) Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều 37 của Luật này thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.
2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.
3. Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định chi tiết về điều kiện, thời gian, mức hưởng của các đối tượng quy định tại Điều 24 và khoản 1 Điều 31 của Luật này."
Tóm lại:
- Việc Công ty ra quyết định buộc bạn phải chọn 1 trong 2 phương án như vậy là trái với quy định pháp luật, không thực hiện đúng như hợp đồng 2 bên. Do bạn đang mang thai mà dự sinh là trước thời hạn hợp đồng và bạn có thể được nghỉ tối đa 2 tháng trước khi sinh (trừ trường hợp có chỉ định của cơ sở ý tế là do tình trạng sức khỏe, thai nhi mà bạn phải nghỉ sớm hơn 2 tháng) thì Công ty phải có trách nhiệm xem xét và tạo điều kiện cho bạn nghỉ.
- Nếu bạn tham gia đóng bảo hiểm đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh thì đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản. Bạn tham gia đóng bảo hiểm kể từ ngày 21/8/2015 thì nếu bạn dự sinh vào 10/8/2016 thì đã có các tháng đóng bảo hiểm là: 9,10,11,12,1,2,3,4,5,6,7 tổng 11 tháng đóng bảo hiểm nên cho dù bạn nghỉ trước sinh 2 hoặc 4 tháng (nếu có chỉ định của cơ sở ý tế bắt buộc phải nghỉ) thì bạn vẫn hoàn toàn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
- Nếu công ty có những hành vi hoặc thực hiện không đúng những quy định như phân tích trên thì bạn có thể làm đơn gửi khiếu nại đến: Tổ chức công đoàn, Hòa giải viên lao động, Tòa án, các cơ quan, tổ chức quản lý về lao động...để bảo vệ quyền lợi của mình.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật lao động.