1. Trốn thuế và các hành vi trốn thuế

Trốn thuế là gì?

Trốn thuế được hiểu là hành vi của một các nhân hay tổ chức thực hiện các phương thức trái pháp luật nhằm giảm số tiền thuế phải nộp theo quy định hoặc trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế. Ví dụ như người bán hàng nhưng không xuất hóa đơn để giảm doanh thu hay tạo ra thông tin không có thật như mua hóa đơn để tăng chi  phí được khấu trừ thuế, tạo hồ sơ giả để hoàn thuế giá trị gia tăng, ...

Theo đó, trốn thuế là một hoạt động bất hợp pháp, những người bị bắt vì tội trốn thuế thường phải chịu các cáo buộc hình sự và hình phạt đáng kể. Đặc điểm nhận biết của hành vi trốn thuế là che giấu thông tin mà lẽ ra phải cung cấp cho cơ quan nhà nước, tạo ra thông tin không có thật. Trốn thuế có thể thực hiện dưới phương thức gian lận thuế nội địa như: bỏ sổ sách kế toán; tạo giao dịch bán hàng giả mạo; tạo giao dịch mua hàng giả mạo; ghi giá bán thấp hơn giá thực tế; hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định. Ngoài ra, còn có các hành vi trốn thuế bằng phương thức gian lận thuế với hàng hóa xuất nhập khẩu, ví dụ như: buôn lậu; khai sai thông tin, chủng loại hàng hóa; khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu; gian lận giá tính thuế; giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đã thuế.

Tránh thuế là hành vi khác với trốn thuế. Tránh thuế đơn giản là việc nghiên cứu, sử dụng các phương pháp hợp pháp để sửa đổi tình hình tài chính của một cá nhân để giảm số tiền thuế thu nhập phải nộp, Việc sửa đổi đổi này thường được thực hiện dưới dạng yêu cầu được ghi nhận các khoản khấu trừ và nợ hợp pháp. Hành động này khác với việc trốn thuế bằng cách sử dụng các phương pháp bất hợp pháp, như ghi giảm thu nhập. Đặc điểm nhận biết các hành vi tránh thuế là việc chủ động nghiên cứu, phân tích tận dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhà nước và quy định thuế. Do đó, không thể xử lý việc tránh thuế  vì không có hành vi trái pháp luật. Ví dụ các hình thức tránh thuế được sử dụng phổ biến trong doanh nghiệp như: chọn đăng ký phương thức khấu hao phù hợp tùy theo sự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ; đăng ký chuyển lỗ trong vòng 05 năm vào những năm tài chính mà doanh nghiệp sự kiến sẽ có lãi lớn để dùng số lỗ đó giảm thu nhập chịu thuế; nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ những nước có ký các hiệp định về ưu đãi thuế quan với Việt Nam về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước để được hưởng mức thuế suất thấp ...

Các hành vi bị coi là trốn thuế theo quy định của pháp luật:

  • Về hồ sơ thuế: không nộp hồ sơ khai thuế, không nộp hồ sơ đăng ký thuế; hoặc không nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn quy định (không nộp sau 90 ngày hay kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế);
  • Sử dụng chứng từ, hóa đơn không hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hóa đơn và chứng từ; hóa đơn không có giá trị sử dụng nhằm kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm để trốn thuế;
  • Sử dụng hàng hóa được miễn thuế và xét miễn thuế (bao gồm cả không chịu thuế) không đúng với mục đích của quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích của quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thuế với cơ quan thuế;
  • Sử dụng hóa đơn, chứng từ và tài liệu không hợp pháp trong những trường hợp khác để xác định sai số thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế phát sinh số thuế trốn, cũn như số thuế gian lận;
  • Lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư và hàng hóa hoặc làm giảm số lượng, giá trị vật tư, hàng hóa không đúng với thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được giảm và miễn thuế;
  • Lập hóa đơn sai về số lượng, giá trị dịch vụ, hàng hóa bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tế;
  • Không ghi chép trong sổ kế toán những khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; kê khai sai, không kê khai, không trung thực làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm;
  • Không xuất hóa đơn khi bán dịch vụ, dịch vụ hoặc ghi giá trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa và dịch vụ đã bán, cũng như bị phát hiện sau thời gian nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế để trốn thuế;
  • Tẩy xóa, sủa chữa chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế cần phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm;
  • Hủy bỏ chứng từ kế toán và sổ kế toán làm giảm số thuế cần phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn giảm;
  • Hàng hóa vận chuyển trên đường không có hóa đơn và chứng từ hợp pháp;
  • Người nộp thuế trong thười gian xin tạm ngừng kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh.

 

2. Đặc điểm cấu thành tội phạm của tội trốn thuế đối với hành vi trốn thuế của doanh nghiệp

Một số hành vi trốn thuế phổ biến của doanh nghiệp:

Hiện nay, có không ít doanh nghiệp đã và đang tìm cách né tránh nghĩa vụ nộp thuế, một số hành vi trốn thuế được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến, cụ thể như là:

  • Tạo các nghiệp vụ giả nhằm xuất các chứng từ, hóa đơn hoặc mua chứng từ ngoài từ các cơ sở kinh doanh khác đề hợp pháp hóa. Với hành vi này, doanh nghiệp vừa được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, vừa được giảm thuế giá trị gia tăng thông qua việc khấu trừ khống thuế đầu vào;
  • Ghi giá trên hóa đơn và kê khai doanh thu thấp hơn giá bán thưc tế. Theo đó, hành vi này thường gặp ở các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, kinh doanh vật liệu xây dựng, bán ô tô xe máy, ... ;
  • Ghi không đúng sổ sách kế toán, tức là người có nghĩa vụ nộp thuế khi ghi sổ sách kế toán này chỉ ghi một phần các giao dịch kinh tế chủ yếu dùng để kê khai thuế. Nói một cách dễ hiểu, người nộp thuế không kê khai, kê khai sai, không trung thực làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm; ...

Như vậy, có rất nhiều phương thức trốn thuế khác nhau, nhưng nhìn chung tất cả các hành vi này đều cùng một mục đích là gain dối để không phải nộp số thuế thep quy định của pháp luật, trục lợi bất hợp pháp.

Dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội trốn thuế:

- Chủ thể của tội trốn thuế, đó là:

  • Cá nhân đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự : người từ đủ 16 tuổi trở lên đều bị truy cứu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm về tội trốn thuế;
  • Phân nhân thương mại:  theo quy định pháp nhân chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã được nhà nước công nhận là pháp nhân thương mại.

Theo đó, công ty, doanh nghiệp trốn thuế có thể bị xử phạt hình sự. Những đối tượng phải đóng thuế bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế hay người nộp thuế. Do đó chủ thể của tội trốn thuế thông thường là các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh, buôn bán nhằm mục đích sinh lời, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, là nhwunxg người có trách nhiệm, quyền hạn trong doanh nghiệp. Những người ở các cơ quan liên quan như hải quan, cơ quan giám định tiếp tay cho doanh nghiệp trốn thuế cũng có thể là chủ thể của tội này.

- Khách thể của tội trốn thuế, đó là:

+ Hành vi trốn thuế xâm phạm đến chế độ qaunr lý thuế của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, cụ thể là hoạt động thu ngân sách nhà nước dẫ đến thất thu ngân sách, cụ thể là hoạt động thu ngân sách nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách, gây thiệt hại tiền thuế cho nhà nước.

+ Đối tượng tác động của tội phạm này là số tiền thuế mà lẽ ra người hoặc pháp nhân phạm tội phải nộp theo quy định của pháp luật.

- Mặt chủ quan tội trốn thuế:

+ Người hoặc pháp nhân phạm tội thực hiện hành vi trốn thuế là do cố ý ( có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), tức là những người đó nhận thức rõ hành vi của mình là trách pháp luật, biết rõ hành vi trốn thuế của mình là làm thiệt hại cho Nhà nước mà vẫn trốn thuế.

+ Mục đích của người phạm tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, người phạm tội trốn thuế bao giờ cũng vì động cơ tư lợi, tâm lý của người kinh doanh phạm tội là càng trốn được nhiều thuế thì càng có lợi, càng tốt.

- Mặt khách quan của tội trốn thuế:

Cá nhân hoặc pháp nhận phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là trốn việc nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hành vi trốn thuế có thể được biểu hiện khác nhau như: Khai bớt doanh thu, khai man hàng hóa, gian lận trong việc hạch toán hoặc có những thủ đoạn gian dối khác để không phải nộp số tiền thuế mà theo pháp luật phải nộp.

Hậu quả của hành vi trống thuế là những thiệt hại về vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ... Hậu quả trực tiếp của hành vi trốn thuế là gây thiệt hại cho nhà nước, làm cho nhà nước không thu được một khoản ngân sách đáng lẽ ra phải thu được. Tuy nhiên, đối với việc trốn thuế, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm chịu trách nhiệm hình sự. 

Như vậy, nếu không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm tội trốn thuế như đã nêu ở trên thì sẽ không đủ căn cứ để phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

3. Người chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế đối với công ty

Như đã trình bày ở trê, chủ thể chịu trách nhiệm đối với tội trốn thuế là những cá nhân đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, và pháp nhân thương mại. Theo quy định của luật doanh nghiệp năm 2020, cá nhân đại diện cho doanh nghiệp được gọi là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, thay mặt doanh nghiệp thưc hiện các quyền và nghãi vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp. Nên khi có vấn đề xảy ra thì đại diện cho doanh nghiệp với tư cách là người yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác.

Theo quy định, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có những trách nhiệm sau đây:

  • Thực hiện quyền và nghãi vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
  • Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
  • Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mình, người có liên quan đến mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp.
  • Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doạn nghiệp do vi phạm trách nhiệm nêu trên.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên, người đại diện theo pháp luật của công ty, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trong trường hợp doanh nghiệp trốn thuế.

Bên cạnh đó, trường hợp kế toán  và các cá nhân khác có trách nhiệm với nghĩa vụ thuế của công ty, liên quan đến hành vi trốn thuế của công ty có thể cũng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hệ quả xảy ra, nhưng người chịu trách nhiệm chính vẫ là người đại diện theo pháp luật của công ty. Do đó, những cá nhân bị truy tố có thể là bất kỳ ai trong công ty, kể cả: kế toán, kế toán trưởng, chuyên viên xuất nhập khẩu, đại diện pháp lý của công ty trong việc ký hợp đồng, các giám đốc hay cũng có thể là các thành viên trong hội đồng thành viên, cổ đông. Những cá nhân bị truy tố không nhất thiết phải là người trực tiếp thực hiện hành vi trốn thuế mà có thể bị truy tố về tội đồng phạm.

 

4. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn thuế

Trong thực tế, việc thực hiện các hành vi gian lận, trốn thuế của các công ty, doanh nghiệp vẫn được diễn ra. Cho nên, pháp luật về quản lý thuế đã quy định rõ về những biện pháp, chế tài để xử lý hành vi vi phạm trên. Tùy vào mức độ vi phạm khác nhau, nghiệm trọng hay cực kỳ nghiêm trọng mà công ty có hành vi trốn thuế có thể bị xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn thuế.

- Điều kiện xử lý hình sự đối với tội trốn thuế đối với cá nhân, pháp nhân thương mại:

  • Hành vi trên phải trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng trở lên thì mới cấu thành tội trốn thuế;
  • Hành vi trốn thuế từ dưới 100 triệu đồng nhưng người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội trốn thuế, hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một số tội khác theo quy định của Bộ luật hình sư mà chưa được xóa án tích, còn tiếp tục có hành vi vi phạm thì cũng cấu thành tội trốn thuế và phải chịu trách nhiệm hình sư;
  • Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự;
  • Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi trốn thuế của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm;
  • Tội trốn thuế xâm phạm quy định của Nhà nước về trốn thuế làm suy giảm ngân sách nhà nước.

- Xử phạt hình sự đối với tội trốn thuế:

Thứ nhất, người nào thực hiện các hành vi trốn thuế đã nêu ở trên với số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một số tội khác theo quy định như: tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, ... chưa được xóa án tích còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Thứ hai, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ 500 triệu đồng; hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm,  đó là;

  • Phạm tội có tổ chức;
  • Số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng;
  • Người phạm tội lợi dụng quyền hạn, chức vụ;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Thứ ba, phạm tội trốn thuế với số tiền 1 tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1 tỷ 500 triệu đồng đến 4 tỷ 500 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Thứ tư, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100  triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thứ năm, pháp nhân thương mại phạm tội thì bị xử phạt như sau:

+ Thực hiện một trong các hành vi quy định theo tội trốn thuế đã trình bày ở trên với số tiền từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hoặc từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành  vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội khác được quy định theo pháp luật mà chưa được xoá án tích và vẫn tiếp tục vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng;

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định như: phạm tội có tổ chức; số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng

+ Phạm tội trốn thuế với số thuế từ 01 tỷ đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 03 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng; hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra. Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động

+ Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vự nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Như vậy, tùy theo số tiền trốn thuế mà có bị xử lý hình sự hay không, có những trường hợp số tiền trốn thuế chưa đến mức bị xử lý hình sự nhưng thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế như quy định trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê về vấn đề người chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế đối với công ty. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho quý khách hàng khi muốn tìm hiểu về những quy định hành vi trốn thuế, người chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi trốn thuế và chế tài xử phạt hình sự về tội trốn thuế đối với cá nhân, pháp nhân thương mại.

Nếu quý khách hàng còn bất kỳ thắc mắc, không hiểu nào về vấn đề này hay bất kỳ vấn đề pháp lý liên quan nào khác, quý khách hàng vui lòng có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn miễn phí của công ty Luật Minh Khuê chúng tôi 1900.6162 để nhận sự sự giải đáp thắc mắc nhanh chóng, kịp thời đến từ đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm chuyên môn. Xin cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng!