- 1. Trốn thuế và các hành vi trốn thuế
- 2. Quy trình xác định số tiền Trốn thuế (Giám định Tư pháp)
- 3. Dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội trốn thuế
- 3.1. Chủ thể của tội trốn thuế
- 3.2. Khách thể của tội trốn thuế
- 3.3. Mặt chủ quan tội trốn thuế
- 3.4. Mặt khách quan của tội trốn thuế
- 4. Xử phạt hành vi trốn thuế như thế nào?
- Kết luận
Khái niệm "trốn thuế" thường được nhắc đến trong đời sống hàng ngày, nhưng trên thực tế không phải bất kỳ hành vi chậm nộp hay kê khai sai thuế nào cũng bị xem là hành vi trốn thuế. Pháp luật hiện hành – đặc biệt là Luật Quản lý thuế năm 2019 và Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS) – đã quy định rất cụ thể các dấu hiệu pháp lý, yếu tố lỗi, và hậu quả để xác định đâu là trường hợp vi phạm hành chính về thuế, đâu là hành vi trốn thuế có yếu tố cấu thành tội phạm. Việc phân biệt chính xác giữa các hành vi này không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động quản lý thuế mà còn giúp người nộp thuế – đặc biệt là doanh nghiệp, kế toán, chủ hộ kinh doanh – nâng cao nhận thức và chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý trong quá trình kê khai và thực hiện nghĩa vụ thuế.
1. Trốn thuế và các hành vi trốn thuế
Trốn thuế được hiểu là hành vi của một các nhân hay tổ chức thực hiện các phương thức trái pháp luật nhằm giảm số tiền thuế phải nộp theo quy định hoặc trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế. Ví dụ như người bán hàng nhưng không xuất hóa đơn để giảm doanh thu hay tạo ra thông tin không có thật như mua hóa đơn để tăng chi phí được khấu trừ thuế, tạo hồ sơ giả để hoàn thuế giá trị gia tăng, ...
Theo đó, trốn thuế là một hoạt động bất hợp pháp, những người bị bắt vì tội trốn thuế thường phải chịu các cáo buộc hình sự và hình phạt đáng kể. Đặc điểm nhận biết của hành vi trốn thuế là che giấu thông tin mà lẽ ra phải cung cấp cho cơ quan nhà nước, tạo ra thông tin không có thật. Trốn thuế có thể thực hiện dưới phương thức gian lận thuế nội địa như: bỏ sổ sách kế toán; tạo giao dịch bán hàng giả mạo; tạo giao dịch mua hàng giả mạo; ghi giá bán thấp hơn giá thực tế; hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định. Ngoài ra, còn có các hành vi trốn thuế bằng phương thức gian lận thuế với hàng hóa xuất nhập khẩu, ví dụ như: buôn lậu; khai sai thông tin, chủng loại hàng hóa; khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu; gian lận giá tính thuế; giả mạo mục đích xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng ưu đã thuế.
Tránh thuế là hành vi khác với trốn thuế. Tránh thuế đơn giản là việc nghiên cứu, sử dụng các phương pháp hợp pháp để sửa đổi tình hình tài chính của một cá nhân để giảm số tiền thuế thu nhập phải nộp, việc sửa đổi đổi này thường được thực hiện dưới dạng yêu cầu được ghi nhận các khoản khấu trừ và nợ hợp pháp. Hành động này khác với việc trốn thuế bằng cách sử dụng các phương pháp bất hợp pháp, như ghi giảm thu nhập. Đặc điểm nhận biết các hành vi tránh thuế là việc chủ động nghiên cứu, phân tích tận dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhà nước và quy định thuế. Do đó, không thể xử lý việc tránh thuế vì không có hành vi trái pháp luật. Ví dụ các hình thức tránh thuế được sử dụng phổ biến trong doanh nghiệp như: chọn đăng ký phương thức khấu hao phù hợp tùy theo sự kiến doanh nghiệp sẽ có lãi hay bị lỗ; đăng ký chuyển lỗ trong vòng 05 năm vào những năm tài chính mà doanh nghiệp sự kiến sẽ có lãi lớn để dùng số lỗ đó giảm thu nhập chịu thuế; nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ những nước có ký các hiệp định về ưu đãi thuế quan với Việt Nam về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước để được hưởng mức thuế suất thấp ...
Theo Điều 143 Luật Quản lý thuế 2019 quy định những hành vi trốn thuế như sau:
“1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật này.
2. Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
3. Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán.
4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
6. Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan.
7. Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
8. Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
9. Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
10. Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
11. Người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này đối với trường hợp sau đây:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp;
b) Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.”
2. Quy trình xác định số tiền Trốn thuế (Giám định Tư pháp)
Việc xác định số tiền thuế trốn là một yêu cầu pháp lý bắt buộc và phải được thực hiện một cách khách quan, chính xác để làm cơ sở định tội và định khung hình phạt. Trong quá trình điều tra vụ án hình sự về tội trốn thuế, cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu Giám định tư pháp về thuế.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động giám định này được quy định chi tiết tại Thông tư số 40/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính, quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, bao gồm kế toán, kiểm toán, giá, chứng khoán và thuế.
Thời hạn giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, theo Thông tư 40/2022/TT-BTC, tối đa là 03 tháng. Trong trường hợp vụ việc giám định có từ hai nội dung giám định khác nhau hoặc có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, thì thời hạn giám định tối đa không quá 04 tháng.
3. Dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội trốn thuế
3.1. Chủ thể của tội trốn thuế
Chủ thể cá nhân là người nộp thuế (bao gồm cá nhân kinh doanh, người đại diện pháp luật, người quản lý hoặc người được giao trách nhiệm về tài chính, kế toán) có hành vi trực tiếp thực hiện hoặc chỉ đạo thực hiện một trong 9 hành vi trốn thuế đã nêu tại Khoản 1 Điều 200 BLHS. Chủ thể cá nhân phải đáp ứng điều kiện chung về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ 16 tuổi trở lên) và năng lực trách nhiệm hình sự.
Phân nhân thương mại: Điều 200 BLHS mở rộng trách nhiệm hình sự đối với Pháp nhân thương mại (PNMT) tại Khoản 5. PNMT chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi trốn thuế được thực hiện nhân danh PNMT, vì lợi ích của PNMT, và PNMT phải đáp ứng các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với PNMT theo quy định chung của BLHS. Việc hình sự hóa PNMT thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc xử lý triệt để các hành vi gian lận thuế có tổ chức, vốn là rào cản lớn đối với môi trường kinh doanh minh bạch.
Theo đó, công ty, doanh nghiệp trốn thuế có thể bị xử phạt hình sự. Những đối tượng phải đóng thuế bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế hay người nộp thuế. Do đó chủ thể của tội trốn thuế thông thường là các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh, buôn bán nhằm mục đích sinh lời, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, là những người có trách nhiệm, quyền hạn trong doanh nghiệp. Những người ở các cơ quan liên quan như hải quan, cơ quan giám định tiếp tay cho doanh nghiệp trốn thuế cũng có thể là chủ thể của tội này.
3.2. Khách thể của tội trốn thuế
Hành vi trốn thuế xâm phạm đến chế độ qaunr lý thuế của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, cụ thể là hoạt động thu ngân sách nhà nước dẫ đến thất thu ngân sách, cụ thể là hoạt động thu ngân sách nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách, gây thiệt hại tiền thuế cho nhà nước.
Đối tượng tác động của tội phạm này là số tiền thuế mà lẽ ra người hoặc pháp nhân phạm tội phải nộp theo quy định của pháp luật.
3.3. Mặt chủ quan tội trốn thuế
Người hoặc pháp nhân phạm tội thực hiện hành vi trốn thuế là do cố ý ( có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), tức là những người đó nhận thức rõ hành vi của mình là trách pháp luật, biết rõ hành vi trốn thuế của mình là làm thiệt hại cho Nhà nước mà vẫn trốn thuế.
Mục đích của người phạm tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, người phạm tội trốn thuế bao giờ cũng vì động cơ tư lợi, tâm lý của người kinh doanh phạm tội là càng trốn được nhiều thuế thì càng có lợi, càng tốt.
3.4. Mặt khách quan của tội trốn thuế
Cá nhân hoặc pháp nhận phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là trốn việc nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hành vi trốn thuế có thể được biểu hiện khác nhau như: Khai bớt doanh thu, khai man hàng hóa, gian lận trong việc hạch toán hoặc có những thủ đoạn gian dối khác để không phải nộp số tiền thuế mà theo pháp luật phải nộp.
Hậu quả của hành vi trống thuế là những thiệt hại về vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ... Hậu quả trực tiếp của hành vi trốn thuế là gây thiệt hại cho nhà nước, làm cho nhà nước không thu được một khoản ngân sách đáng lẽ ra phải thu được. Tuy nhiên, đối với việc trốn thuế, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, nếu không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm tội trốn thuế như đã nêu ở trên thì sẽ không đủ căn cứ để phải chịu trách nhiệm hình sự.
4. Xử phạt hành vi trốn thuế như thế nào?
Xử phạt hành vi trốn thuế được quy định tại Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP như sau:
(1) Phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP;
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này;
- Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế;
- Sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm;
- Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm;
- Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế;
- Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
(2) Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản (1) mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
(3) Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản (1) mà có một tình tiết tăng nặng.
(4) Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản (1) có hai tình tiết tăng nặng.
(5) Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản (1) có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.
Biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản (1), (2), (3), (4), (5).
Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định tại các khoản (1), (2), (3), (4), (5) đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
- Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi quy định tại khoản (1), (2), (3), (4), (5).
Lưu ý: Các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Kết luận
Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê về vấn đề “Thế nào là hành vi trốn thuế quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015?”. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho quý khách hàng khi muốn tìm hiểu về những quy định hành vi trốn thuế, chế tài xử phạt về tội trốn thuế đối với cá nhân, pháp nhân thương mại.
Nếu quý khách hàng còn bất kỳ thắc mắc, không hiểu nào về vấn đề này hay bất kỳ vấn đề pháp lý liên quan nào khác, quý khách hàng vui lòng có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn miễn phí của công ty Luật Minh Khuê chúng tôi 1900.6162 để nhận sự sự giải đáp thắc mắc nhanh chóng, kịp thời đến từ đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm chuyên môn. Xin cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng!