1. Chủ nghĩa xã hội có khả thi hay không? Ý kiến của Ludwig von Mises

Ludwig von Mises bắn loạt đạn chào mừng tranh luận tính toán xã hội chủ nghĩa trong năm 1922 bằng việc đặt vấn đề xét cho cùng liệu chủ nghĩa xã hội có khả thi hay không - liệu xã hội công nghiệp hóa hiện đại có thể tiếp tục tồn tại nếu được tổ chức theo đường lối xã hội chủ nghĩa hay không. Ludwig von Mises công kích tiền đề cơ bản của những lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa rằng nền kinh tế có thể lên kế hoạch và điều khiển hiệu quả sau khi nhà nước xã hội chủ nghĩa xóa tiền tệ, thị trường và hệ thống giá cả. Ông lập luận giá tiền xác định trong bối cảnh thị trường cần thiết để tính toán kinh tế hợp lý.

Hệ thống giá cho phép tài nguyên lưu thông tự do đến những sử dụng có giá trị cao nhất, thật ra là, hướng cho tài nguyên đến cách sử dụng có giá trị cao nhất. Chẳng hạn, việc xây dựng đường ray xe điện ngầm bằng bạch kim mang tính khả thi về kỹ thuật cao hơn bằng thép, nhưng muốn sử dụng bạch kim sẽ không thích hợp khi cần phải có nguyên liệu thay thế ít tốn kém hơn. Chỉ có hệ thống giá, miêu tả các mức giá cạnh tranh của những người sử dụng bạch kim tiềm năng, đảm bảo phải tiến hành đánh giá như thế. Mises lập luận, không có hệ thống giá thì tài nguyên không thể phân phối hiệu quả và nền kinh tế hoạt động ở mức nguyên thủy.

Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Mises, một số các tác giả xã hội chủ nghĩa lỗi lạc nhất, nhất là Oskar Lange và Abba Lerner, thừa nhận Ludwig von Mises tìm ra điểm yếu nghiêm trọng trong lý thuyết xã hội chủ nghĩa. Thậm chí Lange đề xuất nửa thật nửa đùa rằng sau này người ta phải dựng tượng Mises trong khối thịnh vượng xã hội chủ nghĩa sao cho không ai quên rằng giá cả và thị trường cũng là điểm cơ bản trong chủ nghĩa xã hội. Nhưng dĩ nhiên, những người ủng hội xã hội chủ nghĩa cũng phản công. Một phần rút bỏ lý thuyết chủ nghĩa xã| hội thuần túy, Lange khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ hoạt động nếu kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa thay cho cơ chế thị trường. Nói cách khác, nhà nước sẽ ấn định giá cho hàng hóa, yếu tố sản xuất thay cho thị trường. Cái nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh lúc ấy sản xuất hàng hóa cho đến khi nào phí tổn biên tế đầu ra của họ bằng với giá hàng hóa “bảo hộ”. Tài nguyên cần để tạo ra thành phẩm sẽ được trưng thu phù hợp với nguyên tắc này, nhà nước sẵn sàng điều chỉnh giá cả nhằm đối phó với sự khan hiếm hay dư thừa nào có thể xảy ra.

2. Tranh luận tính toán xã hội chủ nghĩa

Mises và Hayek lúc này phải đối phó trước phê bình thậm chí gay gắt hơn. Họ lập luận, vấn đề nhà nước “mô phỏng” thị trường là giá cả dự kiến do các cơ quan chức năng của chính phủ ấn định sẽ không bao giờ chuyển tải thông tin chính xác về phí tổn cơ hội thực khi sử dụng tài nguyên. Vồ số thông tin cụ thể, chi tiết cần phải có đối với giá do nhà nước quyết định để làm phù hợp với giá thị trường, nếu có thể do các quan chức quan liêu của chính phủ ấn định sẵn, thì kết quả sẽ là phí tổn giao dịch khổng lồ. Ngoài ra, đối với chủ nghĩa xã hội muốn phỏng theo hoạt động thị trường, thì động cơ cá nhân lẽ ra phải được hình thành nhằm đảm bảo con người trong hệ thống sử dụng thông tin và tài nguyên hiệu quả. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu tài sản do cá nhân sở hữu, một tình huống xung đột trực tiếp với chủ nghĩa xã hội.

Ở mức độ cơ bản nhất, tranh luận tính toán xã hội chủ nghĩa là cuộc tranh luận về mô thức lý thuyết. Lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên các mô thức cân bằng tổng quát Walras trong đó bộ phận kế hoạch hóa tập trung thay thế cho người bán đấu giá Walras. Lange đề xuất bộ phận kế hoạch hóa tập trung phân phối giá tài nguyên và cho phép hàng tiêu dùng được định giá trong thị trường tự do để cung cấp thông tin chính xác đối với việc đánh giá yếu tố. Giá cả yếu tố sản xuất lúc ấy phải đáp ứng tình huống có thể xảy ra trên thị trường, và toàn bộ quá trình qua thử nghiệm và sai sót kích thích quá trình tâtonnement của Walras, về phần mình, Mises và Hayek phủ nhận mô thức Walras là không thực tế và không thích hợp.

Trong hình thức thuần túy lẫn lớp vỏ xã hội, mô thức ấy vẫn không nắm bắt những đặc điểm quan trọng trong thế giới thực để nó có thể áp dụng được. Nói chung, Hayek cho rằng thông tin cần phải có trong lý thuyết tính toán xã hội chủ nghĩa không được cung cấp, nhưng chỉ là vấn đề khám phá liên tục. Phê bình Áo về bản chất tương tự như phê bình trong mô thức Tân cổ Điển, nghĩa là những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội không hiểu hàm giá cả phi tham số. Một nơi nào đó trên con đường phát triển lý thuyết kinh tế, các nhà kinh tế học Tân cổ Điển quên hay xem nhẹ tầm nhìn ban đầu của Cantillon về thị trường như một đấu trường trong đó những người tham gia thị trường (nghĩa là nhà doanh nghiệp) thúc giá cả theo hướng cân bằng, bằng cách khai thác cơ hội lợi nhuận do giá cả mất cân bằng đưa ra. Tầm nhìn này được các nhà kinh tế học Áo nắm bắt và duy trì nhất quán hơn các nhóm khác. Do đó, họ quy sự thiển cận của những người ủng hộ xã hội chủ nghĩa vào nhận thức hoạt động thị trường chủ yếu dưới dạng cạnh tranh hoàn toàn.

3. Lập luận của Hayek

Hayek đưa ra những phản biện thuyết phục nhất về quan điểm xã hội chủ nghĩa, về cơ bản ông lập luận như sau. Thông tin mà cá nhân dùng để định hướng hoạt động kinh tế của mình rất mênh mông, chi tiết, phân mảnh và thường mang đặc tính riêng. Thông tin này không được hiểu theo các hàm cung cầu khách quan vốn luôn có sẵn ở nhà hoạch định tập trung. Lý do chính Hayek đưa ra là thông tin như thế là vấn đề khám phá Hển tục thông qua hành động và trung hòa của nhà doanh nghiệp. Kinh tế học Tân cổ Điển nhấn mạnh chỉ một loại hiểu biết duy nhất - “hiểu biết kỹ thuật” mối quan hệ đầu ra-đầu vào kỹ thuật. Kinh tế học Áo cũng làm nổi bật hiểu biết cụ thể về “thời gian và địa điểm”, dẫn đến nhận thức cơ hội lợi nhuận trước quần chúng, và loại hiểu biết giúp cho cá nhân có khả năng nhận thức phương pháp và sản phẩm mới mang lại phần thưởng lớn hơn. Giá thị trường trong khuôn khổ này không phải là thông số. Chúng là kết quả của vô số giao dịch độc đáo và đúng lúc của số cá nhân hiểu biết tính đa dạng và hình dạng giá cả này. Đáp lại giá cả này sử dụng như tín hiệu tập hợp và kết hợp hiểu biết phân quyền thành một tổng thể hệ thống. Theo lời Karen Vaughn:

“Muôn tóm tắt tất cả lượng thông tin này thành một bộ phương trình cùng lúc trong điều kiện tốt nhất đều mang tính viển vông”. {Economic Calculation under Socialism, trang 546).

4. Quyền sở hữu của cá nhân

Vấn đề mà Mises và Hayek công kích về cơ bản là ảnh hưởng của sự thuyết minh khác nhau về quyền sở hữu tài sản trong việc ra quyết định kinh tế của cá nhân. Đây là vấn đề diện rộng tự nó không hạn chế trong sự phân đôi giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.

Gần như bảy thập niên sau tranh luận tính toán xã hội chủ nghĩa nổ ra, chúng ta đặt vấn đề là khi xét lại, thì tranh luận có sự liên quan ra sao? Trong số những nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện hữu, chỉ có Nam Tư là giống với đề xuất “xã hội chủ nghĩa thị trường” của Lange và Lerner. Một vài nước xã hội chủ nghĩa khác, nhưng cũng bao gồm các nước lớn nhất, Liên Xô và Trung Quốc, đều đưa ra cải cách mở rộng vai trò của bộ phận kinh tế tư nhân, cho dù trung ương vẫn điều hành bộ phận lớn nền kinh tế. Thế nhưng trước khi kết luận “khả năng có thể hoạt động” của những nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không mang tính thị trường trái ngược với phê bình của người Áo, chúng ta phải tính đến hai sự thật đã hình thành về những nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thứ nhất, hoạt động kinh tế của họ rất sơ sài khi so sánh với các nền kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa, trong một số trường hợp, cũng gây hậu quả thảm khốc như thế. Thứ hai, bộ phận tư nhân trong các nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa, thường tồn tại dưới dạng các nền kinh tế hoạt động ngầm phi pháp, thường chiếm sôi đông và quan trọng. Những thực tế này ít nhất cũng chứng minh một phần phê bình chủ nghĩa xã hội của người Áo là đúng.

5. Học giả xã hội chủ nghĩa lỗi lạc Oskar R. Lange

Oskar Ryszard Lange (27 tháng 7 năm 1904 - 2 tháng 10 năm 1965) là một nhà kinh tế và nhà ngoại giao Ba Lan. Ông nổi tiếng với việc ủng hộ việc sử dụng các công cụ định giá thị trường trong các hệ thống xã hội chủ nghĩa và đưa ra một mô hình về chủ nghĩa xã hội thị trường. Ông đã trả lời cho bài toán tính toán kinh tế do Ludwig von Mises và Friedrich Hayek đề xuất bằng cách tuyên bố rằng các nhà quản lý trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sẽ có thể theo dõi cung và cầu thông qua việc tăng và giảm hàng tồn kho và ủng hộ việc quốc hữu hóa của các ngành công nghiệp chính. Trong thời gian ở Hoa Kỳ, Lange là một giáo viên hàn lâm và nhà nghiên cứu về kinh tế toán học. Sau đó ở Ba Lan xã hội chủ nghĩa, ông là thành viên của Ủy ban Trung ương của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan.

Phần lớn những đóng góp của Lange cho kinh tế học là trong thời gian ông ở Mỹ giai đoạn 1933-1945. Mặc dù là một nhà xã hội chủ nghĩa nhiệt thành , Lange vẫn yêu thích lý thuyết giá trị lao động của Mác vì ông rất tin tưởng vào lý thuyết tân cổ điển về giá cả. Trong lịch sử kinh tế học, ông có lẽ được biết đến nhiều nhất với tác phẩm Về lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội xuất bản năm 1936, nơi ông nổi tiếng đặt kinh tế học Mác xít và kinh tế học tân cổ điển cùng nhau.

LUẬT MINH kHUÊ (Sưu tầm)