Việc bảo đảm Hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội là một trong các quan điểm quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1. Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền

Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm:

- Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Vấn đề này được khẳng định tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”
Điều này có nghĩa rằng, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ Nhân dân. Quyền lực nhà nước, dù do bất cứ cơ quan, cá nhân nào nắm giữ cũng có nguồn gốc từ sự ủy quyền của Nhân dân. Không có thứ quyền lực nhà nước nào có nguồn gốc tự thân, nằm ngoài sự trao quyền, ủy quyền (trực tiếp hoặc gián tiếp) của Nhân dân. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam không có nguồn gốc từ thần quyền, mà có nguồn gốc từ Nhân dân. Trước đây, trong thời phong kiến, nhà vua hoặc hoàng đế thường tự coi mình là “thiên tử” (con trời), được trời đưa xuống để chăm lo, giáo hóa, cai trị nhân dân chứ không phải chủ thể nhận sự ủy thác của Nhân dân. Chính vì thế, quan lại được coi là cha mẹ dân, được “thiên tử” ủy thác cho việc chăm lo, cai trị thần dân. Vua (“thiên tử”) không phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhân dân mà chỉ phải chịu trách nhiệm trước “trời”, chỉ cần hành xử theo “thiên mệnh”

- Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan nhà nước khác.

Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.

-  Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật; thừa nhận vị trí tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.

- Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Dân chủ và quyền con người có mối quan hệ mật thiết, tuy không phải là hai phạm trù đồng nhất. Một trong những tiêu chí đầu tiên và cơ bản của một xã hội có dân chủ là mọi cá nhân, nhóm và chủ thể khác nhau đều có các quyền và cơ hội bình đẳng để nêu lên ý kiến, quan điểm của mình và tham gia vào mọi tiến trình chính trị. Sự tôn trọng các quyền và tự do cá nhân, đặc biệt là các quyền dân sự, chính trị, cùng với các nguyên tắc pháp quyền, bình đẳng, không phân biệt đối xử, cùng tồn tại trong đa dạng, là những yêu cầu không thể thiếu và được tuân thủ nghiêm ngặt trong một nhà nước dân chủ.

- Trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ chủ đạo trong xã hội. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Đồng thời, công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội.

- Nước Việt Nam bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế; tuần thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận. Đảng Cộng sản luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Nói tóm lại, hạt nhân cơ bản của nhà nước pháp quyền chính là nhà nước phải tồn tại, phát triển, vận hành trong môi trường pháp luật, với pháp luật là tối thượng, còn pháp luật phải luồn phù hợp với quy luật khách quan, với tiến bộ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.

2. Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền

Khi trong xã hội xuất hiện nhà nước, cũng có nghĩa là xuất hiện quyền lực nhà nước - một loại quyền lực công cộng đặc biệt bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân nhưng không do toàn thể nhân dân tự thực hiện mà do một bộ máy chuyên môn thay mặt nhân dân thực hiện.Trong nhà nước pháp quyền, ý chí chung và lẽ chung của nhân dân được thể hiện một cách tập trung, đầy đủ và cao nhất thông qua Hiến pháp. Vì lẽ đó, Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản (basic law) của nhà nước pháp quyền, có hiệu lực pháp lý cao nhất, được xây dựng, ban hành, bổ sung, sửa đổi theo một thủ tục đặc biệt. Ngày nay, trong giai đoạn chủ nghĩa hiến pháp đã phát triển hoàn thiện, cùng với nhà nước pháp quyền (rule of law) trong bối cảnh toàn cầu hóa, Hiến pháp hiện đại đã nâng cao các biện pháp thực hiện, bảo vệ chế độ dân chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người và quyền công dân; ở thành công cụ có hiệu quả nhất của tất cả các quốc gia trên thế giới trong việc đấu tranh vì tự do, dân chủ, bình đẳng, hòa bình và tiến bộ xã hội, vì sự nghiệp bảo vệ các quyền con người và công dân trong phạm vi toàn thế giới.

Với khuôn khổ có hạn, hiến pháp trong nhiều trường hợp không thể quy định một cách chi tiết và cụ thể để áp dụng trong mọi tình huống, mà chỉ có thể quy định những vấn đề chung, cơ bản, mang tính nguyên tắc của nhà nước và của xã hội như: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... Do hiến pháp không thể quy định được tất cả những gì liên quan tới nhà nước và xã hội nên đòi hỏi phải có sự chi tiết, cụ thể hóa các quy định của hiến pháp bằng các văn bản pháp luật khác. Bảo đảm tính tối cao của hiến pháp không những là sự tôn trọng ý chí và nguyện vọng của nhân dân mà còn tạo nên tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm cho việc nhận thức và thực hiện pháp luật chính xác, thống nhất hơn. Chính vì thế, Điều 146 của Hiến pháp nước ta đã khẳng định: “Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp”.

3. Chức năng của Hiến pháp

Cùng với xu thế đó, tư tưởng hiến pháp của Việt Nam trong quá trình phát triển đều có những bước tiến phù hợp. Hiến pháp năm 2013 hiện nay đã thể hiện đầy đủ các chức năng của một hiến pháp hiện đại.

Hiến pháp có những chức năng cụ thể như sau

- Xác lập các nguyên tắc cơ bản của chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quốc phòng, an ninh quốc gia, đường lối đối nội, đối ngoại; 

Những vấn đề này được Hiến pháp quy định tại khoản 3 điều 1; khoản 1, 2 điều 4; điều12 của Hiến pháp 2013

-  Xác định cách tổ chức quyền lực nhà nước, cách thức xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp;

Khoản 3 điều 2: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

- Xác lập và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân; 

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.( Khoản 1 điều 14 Hiến pháp năm 2013)

-  Thể hiện là “bản khế ước xã hội”, theo đó nhâm dần chính thức trao quyền cho các cơ quan nhà nước: Trao quyền lập pháp cho Quốc hội, quyền hành pháp cho Chính phủ, quyền tư pháp cho Tòa án nhân dân. Hiến pháp thể hiện là nguồn hình thành nên các cơ quan quyền lực nhà nước, là điểm tựa của quyền lực hợp pháp; 

- Là đạo luật gốc, là luật cơ sở, từ nó mà các luật và các văn bản pháp luật khác ra đời. Không chỉ riêng Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều khẳng định vị trí “cơ bản nhất” của Hiến pháp, là cơ sở cho tất cả các ngành luật khác và là văn bản khẳng định chủ quyền, độc lập của một dân tộc với tất cả các quốc gia trên thế giới.

- Là văn bản giới hạn quyền lực của các cơ quan nhà nước, là công cụ chủ yếu để nhân dần kiểm soát quyền lực nhà nước, là công cụ chủ yếu để thiết lập trật tự pháp luật, trật tự xã hội. 

Với tính xã hội rộng lớn và chứa đựng bao quát “những lẽ chung đúng đắn”, Hiến pháp là hình thức thể hiện tập trung, rõ nét nhất của công lý; ở đó Hiến pháp phản ánh khái quát nhất những thành quả khách quan đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; các quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và cam kết bảo vệ; là “khế ước xã hội” giữa nhà nước và nhân dân về quyền lực công cộng; đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân; tôn vinh những giá trị văn hóa, nhân đạo, nhân văn, công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ; thể hiện tính pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật, là nền tảng để các văn bản pháp luật ra đời theo trật tự hiến pháp, thống nhất với Hiến pháp... Vì thế, có thể nói, qua Hiến pháp và trật tự hiến pháp, công lý được xem là “xương sống” của hệ thống pháp luật, là nền tảng cho hoạt động của nhà nước, giúp cho việc kiểm soát quyền lực, đảm bảo cho xã hội trật tự, ổn định và phát triển bền vững.

Do đó, khi đề cập đến việc bảo đảm Hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội, thì đó cũng chính là khẳng định vai trò nền tảng của công lý trong đời sống pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ vấn đề này, sẽ liên hệ mật thiết đến vấn để bảo vệ Hiến pháp với bảo vệ công lý của quyền tư pháp do Tòa án nhân dân thực hiện.

4. Hoàn thiện mô hình bảo vệ Hiến pháp để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của TAND

Do Hiến pháp có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội gắn với nhà nước pháp quyền, nên việc bảo vệ Hiến pháp cũng là một đòi hỏi tất yếu.

Việc bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam theo mô hình riêng, là mô hình tất cả các cơ quan nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp, không tập trung cho một cơ quan chuyên biệt như mô hình Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp hay Tòa án tư pháp như các nước khác. Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Quốc hội,... Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Trong quá trình hoạt động, Tòa án không được quyền giải thích Hiến pháp và khi phát hiện có văn bản luật hoặc văn bản dưới luật trái với Hiến pháp thì không có quyền tuyên bố văn bản đó vô hiệu mà chỉ có quyền kiến nghị và không áp dụng văn bản đó để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Trong Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước “Phân công, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, các tác giả có nêu ý kiến về vấn đề bảo vệ Hiến pháp như sau: “Về quyền tư pháp là quyển bảo vệ ý chí chung của quốc gia. Quyển này được giao cho Toà án. Hiến pháp nước ta quy định có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động... Nội dung của quyền xét xử như vậy là chưa đầy đủ. Có những thẩm quyền, theo lý luận về Hiến pháp và tổ chức chính quyền, vốn được quan niệm thuộc quyền của Toà án nhưng chưa được trao cho Toà án. Toà án không được xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật thay vì quyền này được giao cho nhiều cơ quan khác nhau như Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật, theo nguyên lý vốn thuộc quyền của Tòa án, nhưng được Hiến pháp và pháp luật phân công thực hiện quyền tư pháp nên quyển này được thực hiện rất ít trên thực tế. Sẽ hợp lý hơn nếu Toà án được trao những quyền: Xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, giải thích Hiến pháp và pháp luật”.

5. Thực tiễn mô hình Hiến pháp hiện nay

Mô hình bảo vệ Hiến pháp như hiện nay không sai về bản chất, vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là luật thể hiện ý chí chung nhất của nhà nước và toàn xã hội, cho nên việc bảo vệ Hiến pháp đương nhiên phải thuộc về trách nhiệm của toàn thể nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế mỗi cơ quan thực hiện việc bảo vệ Hiến pháp theo góc độ chuyên trách với cách tiếp cận riêng của ngành mình. Theo góc nhìn của Philippa Strum (Giáo sư Đại học New York) cho thấy: “Nếu đa số tin tưởng một cách cuồng nhiệt vào một ý tưởng nào đó thì nó sẽ không đón nhận các phát biểu ý tưởng trái ngược và lại có khuynh hướng ém nhẹm những ý tưởng đó. Nói cho cùng thì sự an sinh của một tập thể cộng đổng bao giờ cũng bị chi phối bởi niềm tin của những người trong cộng đồng...”. “Điều gì sẽ xảy ra khi điều mà cá nhân coi là quyền lại mâu thuẫn vôi ý muốn của đa số? Liệu ta có thể tin là đa số sẽ cố nén cái điều mà họ tin tưởng mãnh liệt để tôn trọng nguyên tắc quyền cá nhân không? Câu trả lời của các nhà soạn thảo Hiến pháp, như ta đã thấy, là giao việc bảo vệ quyền cho nhóm đa số hay cho chính quyền được đa số bầu lên là một điều ngây thơ. Cần phải lập ra một ngành tư pháp độc lập không e ngại gì trong việc kiên quyết khẳng định quyền con người dù đa số có kịch liệt phản đối”.

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan thực hiện quyền lập pháp và hành pháp trong quá trình triển khai Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và quá trình tự giám sát, thường hay bị ảnh hưởng bởi lợi ích của ngành mà mình đại diện, hoặc lợi ích của đa số hay quan điểm trào lưu nhất định; do đó vẫn rất cần một cơ quan mang tính khách quan, đủ khả năng để phối hợp, giúp cho các cơ quan lập pháp và hành pháp hoạt động phù hợp với trật tự hiến pháp hơn. Mặt khác, việc các cơ quan nhà nước phân công và phối hợp với nhau để có thể kiểm soát, đảm bảo hoạt động của mình phù hợp với trật tự hiến pháp, cũng là khẳng định vai trò, ý nghĩa quyết định của tính xã hội đối với tính giai cấp, của cái chung đúng đắn đối với cái chung... từ đó mới có thể đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chung là duy trì trật tự xã hội ổn định và phát triển bền vững.

Bởi Hiến pháp là sự thể hiện tập trung của công lý, mà bảo vệ công lý là thiên chức của quyền tư pháp, nên tất yếu việc bảo vệ Hiến pháp cũng phải được coi là thiên chức của quyền tư pháp. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp nếu không được giao hẳn cho Tòa án thực hiện thì ít nhất nhiệm vụ này cũng phải giao cho một cơ quan có tính khách quan, độc lập tương đối giống như Tòa án thì mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp.

Trên cơ sở đó, chúng tôi ủng hộ quan điểm cần thiết phải lập một cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp đối với hoạt động lập pháp và hành pháp ở cấp trung ương với tính độc lập tương đối giống như Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Vì Hiến pháp năm 2013 đã giao cho Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp nên cơ quan này phải được gọi là Tòa án Hiến pháp thuộc về hệ thống Tòa án nhân dân, bên cạnh Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, để phù hợp với truyền thống cơ cấu quyền lực chính trị ở Việt Nam, về thành viên của Tòa án Hiến pháp nên giống mô hình Hội đồng Hiến pháp để đảm bảo tính toàn diện, bao quát các ngành, có thể là 09 hoặc 15 người, với 03 hoặc 05 người do Quốc hội đề cử, 03 hoặc 05 người do Chính phủ đề cử và 03 hoặc 05 người do Tòa án nhân dân tối cao đề cử để Quốc hội thông qua; những thành viên này có trình độ cao, có uy tín và nhiều năm kinh nghiệm tại cơ quan đã đề cử, thực hiện nhiệm vụ chuyên trách và nhiệm kỳ lâu dài, có thể là 10 năm hoặc theo “tuổi thọ” của Hiến pháp.

Tòa án Hiến pháp thực hiện việc giám sát hoạt động bảo vệ trật tự hiến pháp của các Tòa án cấp dưới; giải quyết các yêu cầu của Tòa án cấp dưới đối với các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương là Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ... có dấu hiệu trái với Hiến pháp và trật tự hiến pháp trong quá trình giải quyết vụ việc. Tòa án Hiến pháp sẽ xem xét, kiến nghị với cơ quan có văn bản vi phạm và sẽ tuyên bố điều luật vi phạm bị vô hiệu và có thể giải thích điều luật theo hướng phù hợp với Hiến pháp. Ví dụ trường hợp đã trình bày tại tiểu mục 3.4 mục 3 phần II của Chương 4 về Điều 102 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) chưa phù hợp với Hiến pháp, Toà án Hiến pháp có thể tuyên bố Điều 102 trái với Hiến pháp và giải thích theo đúng tinh thần của Hiến pháp để Tòa án cấp dưới áp dụng giải quyết ngay vụ việc cho kịp thời, không cần đợi Quốc hội. Khi Quốc hội họp sửa đổi luật theo quy trình chặt chẽ, qua nhiều khâu, tổng hợp nhiều ý kiến, lúc này đã có những phán quyết của Tòa án Hiến pháp về vấn đề liên quan, đó sẽ là những ý kiến tham khảo tốt để Quốc hội sửa đổi, ban hành quy định mới cho phù hợp. Ngoài ra, như một số nước khác, Tòa án Hiến pháp có thể được giao thêm những nhiệm vụ khác như tham vấn cho Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ về dự án luật, chính sách pháp luật trước khi ban hành, giám sát bầu cử, giám sát trưng cầu dân ý...

Về vấn đề bảo vệ trật tự hiến pháp đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở địa phương, theo quan điểm của tác giả, thẩm quyền bảo vệ trật tự hiến pháp nên giao cho Hội đồng xét xử thực hiện và phải tuyên trong bản án, quyết định để vừa đảm bảo tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và vừa đảm bảo tính hiệu lực thi hành trên thực tế.

Tóm lại, quan điểm về mô hình nêu trên là quan điểm kết hợp ưu điểm của nhiều mô hình, của mô hình Tòa án Hiến pháp qua tính chất chuyên trách, của mô hình Hội đồng Hiến pháp qua tính chất đại diện cho các nhánh quyền lực, của mô hình Tòa án tư pháp qua việc bảo vệ Hiến pháp gắn với quá trình xét xử, và trên hết vẫn dựa trên mô hình hiện tại là toàn bộ các cơ quan nhà nước và toàn dân đều có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp; qua đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân.


Luật Minh Khuê (Phân tích & Tổng hợp)