NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc

Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, trong khóa họp lần thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh - sự nghiệp xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

2.1 Bối cảnh lịch sử khi nhà nước được xây dựng:

Đó là thời kỳ từ sau Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình Việt Nam cho đến giữa cúộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lúc Người ra đi.

Đó là thời kỳ cực kỳ gay go phức tạp, mà tiêu biểu là đất nước ta phải làm hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, mà thực chất là tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miên Nam, thống nhất đất nước, hoàh thành cách mậng dân tộc dân chủ trong cả nưđc, chuẩn bị Những Điều kiện, tiền đề cần thiết cho cả nước thông nhất đi lên CNXH.

Mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược to lớn, phức tạp đố đã đặt,trưđc Đảng và nhân dân ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước và pháp luật cũng vô cùng to lổn và phức tạp. Nó không cho phép giản đơn, sao chép, rập khuôn mô hình Nhà nước và pháp luật của bất kỳ nước nào, không chỉ phía đối lập mà ngay cả các nước XHC, thậm chí các nước xây dựng CNXH có hoàn cảnh nào đó tương tự với ta.

Dưđi đây là những tư tưởng sáng tạo của Chủ tịch Hô Chí Minh về Nhà nước và pháp luật thể hiện qua sự nghiệp xây dựng Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đưa đất nước lên CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà.

2.2 Nhiệm vụ cần làm do Đảng đặt ra:

Để thực hiện mục tiêu đưa miên Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội III của Đảng (1960) đá chỉ rõ: “Phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản”U).

Vận dụng, Đồng thời có phát triển lý luận của Lênin về chuyên chính vô sản. Đảng ta đã xác định nội dung của những nhiệm vụ lịch sử đó là:

  1. Đập tan sự phản kháng của kẻ thù giai cấp đã bị cách mạng lật đổ và trấn áp những mưu mô và hành động của chúng định khôi phục lại chính quyền tư bản;
  2. Tập hợp các tầng lớp quần chúng đồng đảo xung quanh giai cấp công nhân để tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội chuẩn bị cho việc xóa bỏ hoàn toàn các giai cấp;
  3. Xây dựng, củng cố và tăng cường lực lượng quốc phòng để chống lại mọi âm mưu gây chiến và xâm lược của kẻ thù bên ngoài, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân cũ và mới;
  4. ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao đống và các dân tộc bị áp bức ở các nưóc trong hệ thống tư ban chủ nghĩa, củng cố và phát triển quan hệ hợp tác giúp nhau với các nước xã hội chủ nghĩa anh

Một vấn đề có ý nghĩa lý luận. và thực tiễn là phân tích tính chất của Nhà nước ta trong giai đoạn lịch sử nậy.

2.3 Chiến lược và hành động cụ thể xây dựng nhà nước:

Tính chất của Nhà nước do tính chất của cách mạng quyết định.

Từ 1951, miên Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng ta nhận định: “Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giái đoạn mới” .

Về tính chất của cách mạng và nhiệm vụ của nhân dân ta trong giai đoạn mới, Hồ chủ tịch đâ nói: “Tù ngày hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta từ cách mạng dân tộc dân. chủ nhân dân chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ trước mắt của toàn dần ta là ra sức xây dựng và củng cố miên Bắc, đưa miên Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, Đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nưóc nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất độc lập dân chủ và giàu mạnh”.Ở miên Bắc, về phương hướng xây dựng Nhà nước trong giai đoạn này. Hô Chù tịch vạch rõ:

“Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo.

“Để xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta càn phải tăng cường không ngừng sự lãnh dạo của giai cấp công nhân đối với Nhà nước dân chủ nhân dân”.

Chính theo tinh thần đó mà Nghị quyết của Đại hội lần thứ IÍI cũa Đảng ta đã vạch rõ: “Phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản”.

Ở miên Nam sau 1954, đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Chúng dựng lên chính phủ bù nhìn tay sai ở miền Nam Việt Nam, phá hoại tổng tuyển cử hòa bình thống nhất đất nước thi hành một chính sách tàn bạo, khủng bô', chém giết đồng bào ta.

Tiếp sau các Hội nghị của Bộ chính trị, Trung ương Đảng, tháng 9-1954 và tháng 6-1956, định ra đường lối đâu tranh cho từng giai đoạn, tháng 1-1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị làn thứ 15 (mở rộng) để xác định đường lối của cách mạng niiền Nam trong giai đoạn mới: lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyên thô'ng trị của đế quốc và phong kiến, đựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.

Tháng 9-1960. Đại hội lần thứ in của Đảng đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miên Nam lậ: “Giải phóng miên Nam khỏi ách thống trị của đế quốc yà phong kiến, thực -hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nựđc Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Được Nghị quyết Đại hội soi sáng, phong trào nổi dậy của đồng bào ta ở miên Nam càng phát triển mạnh mẽ. Ngày 20-12-1960. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Mặt trận thông qua một chương trình hành động gôm 10 điểm mà nội dung cơ bắn là đánh để chế độ thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai, giải phóng miến Nam, nhằm xây dựng một mỉên Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.

Những kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận ở các khu giải phóng của miên Bắc trưđc đây được áp dụng vào miền Nam với tinh thần sáng tạo mới và mức độ phát triển mới. Các tổ chức Mặt trận đã phát huy mạnh mẽ vai trò “tiên Chính phủ”.

Trước tình hình đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào miên Nạm, ngày 16-2-1962. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miên Nam Việt Nam họp Đại hội lần thứ I. Đại hội đã công bô' 4 chủ trương của nưóc trong đó nhấn mạnh viêc thành lập ở miên Nam một Chính phủ liên hiệp.

Nhđng thắng lợi mà nhân dân míén Nam liên tiếp giành được đã tạo Điều kiện cho một Chính phủ ở miên Nam ra đời.

Ngày 6-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miên Nam Việt Nam- Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (được thành lập ngày 2-4-1968 sau Tết Mậu thân) cùng các lực lượng yêu nước khác đã họp Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, nhất trí bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miên Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn Chính phủ. Đây là “một thắng lợi trong quá trình hoàn chỉnh hệ thông chính quyền cách mạng ở miền Nam Việt Nam, một chính quyền thật sự dân tộc và dân chủ.

Chính quyền cách mạng ở miên Nam Việt Nam có các đặc điểm:

  • Được thành lập từ nhân dân mà ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng;
  • Chủ trương thi hành các cải cách dãn chủ ở vùng giải ' phóng, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”: đẩy mạnh sản xuất để kháng chiến, phát triển văn hóa, giáo dục.

Chính quyền đó thực sự là một chính quyền dân tộc, dấn chủ rihân dân.

Mặc dầu bản chất rất ngoan cố, đế quốc Mỹ đã phải công rihận sự có mặt của chính quyền đó tại Hội nghị Paris vắ buộc phải thương lượng với nó như một bên bình đẳng Hội nghị. Và khi Hội nghị Paris kết thúc sau gần 5 năm đàm phán, trong Hiệp định Paris và Định ước quốc tế Paris về Việt Nam, chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đặt ngang hàng với chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ và Bộ trưởng Ngoại giao của các nước khác tham gia ký kết Hiệp định và Định ước quốc tế.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê