1. Tài phán hành chính

Tài phán hành chính là một vấn đề phức tạp, Phạm vi khái niệm tài phán hành chính phụ thuộc vào điều kiện chính trị- xã hội, điều kiện lịch sử và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước. Do đó, ở từng giai đoạn lịch sử của quốc gia hoặc ở các quốc gia khác nhau có quan niệm khác nhau về phạm vi khái niệm tài phán hành chính.

Tài phán hành chính theo cách hiểu thông thưòng hiện nay là hoạt động phán quyết do cơ quan hoạt động có tính chất tư pháp thực hiện. Nói như vậy, vì cụm từ "tài phán hành chính" không phải là cụm từ đặc quyền chỉ hoạt động tư pháp mà còn là chỉ hoạt động hành chính.

Chẳng hạn khi xác định quyền xử phạt hành chính trên biển đối với tàu thuyền nước ngoài, nếu có tranh chấp, người ta sẽ nói quyền tài phán (hành chính) thuộc về nước nào.

Trong sách báo, các diễn đàn pháp lý và cả trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, tuy không nói ra, nhưng dường như có quy ước chung (không bắt buộc) rằng khi nói đến tài phán hành chính là nói đến hoạt động của Toà án giải quyết (xét xử) tranh chấp hành chính giữa các chủ thể là nhà nưốc và cá nhân, tổ chức trong quan hệ hành chính nếu tác giả không chỉ ra cách hiểu của mình là hoạt động xử lý hay xử phạt có tính cách hành chính, trong hoạt động hành chính.

Đối với các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do các chủ thể quản lí hành chính thực hiện có thể trái pháp luật, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức là đối tượng quản lí hoặc cũng có thê các đối tượng quản lí chủ quan cho rằng mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính. Đối với những trường hợp như vậy đều có thể nảy sinh những tranh chấp giữa chủ thể quản lí hành chính nhà nước với các đối tượng bị quản lí, đòi hỏi phải có người đứng ra làm trọng tài để phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các chủ thể quản lí, đưa ra những biện pháp hợp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Lúc này chủ thể có quyền đứng ra làm trọng tài xem xét, để phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính – chủ thể đó không ai khác mà nhà nước phải là chủ thể có quyền và trách nhiệm xem xét về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các chủ thể quản lí.

Với các tranh chấp giữa một bên là nhà nước mà đại diện là các chủ thể thực hiện quyền hành pháp để ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính mang tính mệnh lệnh đơn phương với các cá nhân tổ chức là đối tượng bị quản lí có nghĩa vụ phải phục tùng các quyết định hành chính hành vi hành chính đó, được gọi là các tranh chấp hành chính.

Do đó, từ một góc nhìn nhất định, thuật ngữ "tài phán hành chính" không có tính xác định cao, rõ ràng bằng thuật ngữ "tư pháp hành chính". Thuật ngữ này được hiểu một cách đơn giản là hoạt động xét xử của toà án (tư pháp) đối vối tranh chấp hành chính giữa nhà nước và công dân trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

2. Nguyên nhân tài phán hành chính có muộn và kém phát triển ở các nước xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, ta dễ dàng nhận thấy ở các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc và có cả đất nước Việt Nam, hệ thống tài phán hành chính có một lịch sử muộn màng và kém phát triển. Vậy câu hỏi đặt ra: Tại sao lại như vậy, thông qua quá trình nghiên cứu ta có thể rút ra một số nguyên nhân sau:

- Một là, quan điểm chính trị thống soái trong các nước thuộc hệ thông xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Giữa nhà nước và nhân dân luôn có sự thông nhất về lợi ích. Nói cách khác, không thể có sự khác biệt hay mâu thuẫn về lợi ích giữa nhà nước của nhân dân vối chính nhân dân. Vì vậy, những xung đột giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước - cho dù đó chỉ là những xung đột với hệ thống hành chính nhà nước- cũng không thể xảy ra, hoặc nếu có xảy ra thì hoàn toàn có thể xử lý bằng con đường hòa giải nhẹ nhàng, không nhất thiết phải bằng con đường tòa án.

- Hai là, hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây không thừa nhận thuyết phân quyền nên nếu đặt vấn đề Tòa án xem xét, xử lý các quyết định của cơ quan hành chính thì vô hình chung là thừa nhận có sự phân tách và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực và như vậy là trái với nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và thực hiện quyền lực ỏ các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

- Ba là, các nước xã hội chủ nghĩa luôn có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đốì với Nhà nưởc và xã hội. Vì vậy, những tranh chấp - nếu có - giữa nhà nước và người dân thì có thể xử lý được nhờ sự lãnh đạo thông nhất của Đảng Cộng sản.

- Bốn là, trong một thời gian dài, nhà nước pháp quyền là một khái niệm xa lạ và không được thừa nhận trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó đồng nghĩa vối việc những nguyên tắc hành xử đặc trưng của nhà nước pháp quyền không được chú trọng.

3. Bàn về sự xuất hiện tài phán hay tư pháp hành chính ở Việt Nam

Khi bàn về vấn đề tài phán hay tư pháp hành chính ở Việt Nam, rất nhiều người đã tưởng rằng nó chỉ mới xuất hiện vào năm 1995, khi Quốc hội sửa đổi Luật Tổ chức Toà án nhân dân đã thiết lập trong hệ thống này các toà chuyên trách hoặc giao cho chức năng xét xử hành chính (gọi chung là Toà án hành chính). Sự nhầm tưởng này có những lý do sâu xa khiến tài phán hành chính tồn tại mà không mấy ai phân tích và quảng bá về tầm vóc to lớn, giá trị pháp quyền và nhân văn của nó.

- Trên thực tế lịch sử dất nước, từ trước Cách mạng tháng Tám, theo một đạo dụ, chính quyền do người Pháp dựng lên đã thành lập ở Việt Nam Toà án hành chính để giải quyết một số tranh chấp hành chính.

- Sau Cách mạng tháng Tám, theo Sắc lệnh số 41-SL ngày 3/10/1945, Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp tiếp quản Toà án hành chính của chính quyền cũ. Nhưng theo dõi các văn bản pháp luật đăng trong Công báo của Nhà nước ta giai đoạn này và hàng chục năm về sau không thấy nói gì thêm về việc tổ chức và hoạt động của Toà án hành chính đã được tiếp quản ấy, ngoại trừ tại Điều 120 của Luật Thuế trực thu Việt Nam được ban hành theo sắc lệnh số 49 - SL ngày 18/6/1949 có quy định rằng người chịu thuế không đồng ý vối suất thuế xác định cho mình thì sau khi đã khiếu nại đến Ty thuế trực thu có quyền "khiếu nại trước Toà án hành chính". Có lẽ trong điều kiện kháng chiến lúc bấy giờ không chắc đã duy trì hoặc tổ chức được trên thực tế một Toà án hành chính nào.

- Cho đến năm 1957, trong sắc luật số 4 về bầu cử Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính các cấp ngày 20/7/1957, hình hài của tài phán hành chính đã xuất hiện. Theo Điều 15 của Sắc luật số 4 về bầu cử Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính các cấp ngày 20/7/1957 này, thì khiếu nại của công dân về việc lập danh sách cử tri trước hết được gửi đến cơ quan lập danh sách cử tri (Uỷ ban hành chính cấp xã) để giải quyết. Khi không đồng ý vối quyết định giải quyết khiếu nại thì họ có quyền khiếu nại đến Toà án nhân dân. Quy định pháp luật này còn được tiếp tục quy định trong các luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay.

=> Như thế, tài phán hành chính trong Nhà nước mới có thể chỉ xuất hiện thực sự vào những năm đầu tiên sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên miền Bắc. Đó là loại hình tài phán hành chính, trong đó, toà án xét xử theo thủ tục dân sự khiếu nại của công dân về việc lập danh sách cử tri (danh sách này do cơ quan hành chính nhà nưốc cấp xã xác định và lập).

- Ngày 29/11/1989, Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tại Điều 11 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự này đã xác định Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các vụ án có liên quan đến việc khiếu nại về danh sách cử tri, việc cơ quan hộ tịch (là cơ quan hành chính nhà nước - tác giả) từ chối đăng ký hoặc không chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch. Đây là các việc được thực hiện theo thủ tục hành chính do các cơ quan hành chính thực hiện. Như vậy, đến đây, chúng ta đã có một định chế tài phán hay tư pháp hành chính khá hoàn chỉnh giống như các nước giải quyết tranh chấp hành chính bằng các toà án thường với các đặc trưng của tài phán (tư pháp) hành chính bất kỳ nào.

4. Đặc trưng của tài phán (tư pháp) hành chính

Như đã nói ở trên, chúng ta đã có một định chế tài phán hay tư pháp hành chính khá hoàn chỉnh giống như các nước giải quyết tranh chấp hành chính bằng các toà án thường với các đặc trưng của tài phán (tư pháp) hành chính bất kỳ nào. Cụ thể gồm những đặc trưng sau:

- Thứ nhất, hiện diện tranh chấp pháp luật liên quan đến quan hệ hành chính nhà nước hay quản lý hành chính nhà nước, được gọi là tranh chấp hành chính nảy sinh trong quan hệ hành chính nhà nước, được giải quyết theo con đường tư pháp. Tranh chấp này có thể là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc sự xác nhận có tính cách hành chính;

- Thứ hai, có một cơ quan phán quyết về tính hợp pháp hay bất hợp pháp trong tranh chấp hành chính với tư cách là cả tư pháp, cụ thế là Toà án nhân dân xét xử vụ án hành chính cùng với các vụ án dân sự khác;

- Thứ ba, thủ tục được áp dụng trong việc giải quyết, xét xử vụ án là thủ tục tư pháp (hay là thủ tục tố tụng). Cụ thể ở đây là thủ tục dân sự.

=> Như thế, tài phán hành chính xuất hiện thực thụ ở Việt Nam trước tiên là ở loại hình Toà án dân sự giải quyết tranh chấp hành chính.

5. Tiếp tục sửa đổi và phát triển về tài phán hành chính

Với một định chế tư pháp hành chính hạn hẹp trong việc xét xử một số loại việc do Toà án dân sự thực hiện như ở mục 4 ta phân tích thì rõ ràng, tầm kiểm tra của Toà án đối với hoạt động của cơ quan hành chính cũng như khả năng bảo vệ các quyền của công dân rất thấp.

Bởi vậy, ngày 28/10/1995, Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức toà án nhân dân. Theo đó trong cơ cấu của Toà án tối cao và Toà án cấp tỉnh, Toà hành chính được tổ chức thành một phân toà bên cạnh các phân toà khác. Đối với Toà án cấp huyện, có các thẩm phán chuyên trách xét xử tranh chấp hành chính. Đồng thời vối việc lập các To à hành chính, thủ tục tố tụng hành chính áp dụng cho việc xét xử tranh chấp hành chính cũng được ban hành mởi với tên gọi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Pháp lệnh này đã có một số sửa đổi.

Khi cho ra đời Toà hành chính, các nhà làm luật đã không đụng chạm gì đến loại hình Toà dân sự đang tồn tại. Như vậy, kể từ ngày 01/07/1996 (thời điểm có hiệu lực của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), cùng lúc ở nước ta đã hoạt động song song cả hai loại hình tư pháp hành chính. Đương nhiên, loại hình "Toà hành chính" có quy mô lớn hơn nhiều "Toà dân sự" đã có trước đó.

Trân trọng!