1. Peter F. Drucker và cuốn sách “Nhiệm vụ của quản lý”
Thứ nhất, ông Peter Ferdinand Drucker sinh ngày 19 tháng 11 năm 1909 và mất vào ngày 11 tháng 11 năm 2005, ông là chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị. Ông được coi là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại, là tác giả nhiều cuốn sách quản lý nổi tiếng, trong đó có cuốn Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21. Những đóng góp của ông được đánh giá rất cao, tạp chí Financial Times (Thời báo Tài chính) đã bình chọn ông là một trong 4 nhà Quản lý bậc thầy của mọi thời đại (cùng với Jack Welch, Philip Kotler và Bill Gates).
Vào năm 1929, ông là cộng tác viên và cố vấn kinh tế của một tờ báo do một ngân hàng Châu Âu ở Luân Đôn thành lập. Năm 1931, ông đỗ tiến sĩ luật khoa ở trường Đại học Frankfurt (Đức). Nãm 1937, ông di cư sang Mỹ để tránh bọn phát xít. Ông bắt đầu xuất hiện trong giới kinh tế học Mỹ với tư cách là học giả của một tập đoàn do một số ngân hàng và công ty bảo hiểm Mỹ kết hợp thành lập.
Trong thời gian từ năm 1942 - 1949, ông là giáo sư chính trị học và triết học ở Học viện Benington (Mỹ). Từ năm 1950 - 1972, ông là giáo sư về khoa học quản lý của Viện Nghiên cứu công thương nghiệp - trường Đại học New York. Năm 1972, ông được mời làm giáo sư cao cấp ở trường Đại học New York. Từ năm 1971 trở đi, ông là giáo sư khoa xã hội học tại Viện Nghiên cứu Kramel. Ông đã làm cố vấn của chính phủ các nước như Mỹ, Canada, Nhật... đồng thời là cố vấn cho các doanh nghiệp lớn như Công ty Thiết bị thương mại quốc tế, Công ty Kla-Slar, Công ty Động cơ thông dụng (General Motor Corporation). Nãm 1963, ông vinh dự được nhận giái thưởng quốc tế Krake về quản lý.
Về các cuốn sách nổi tiếng của ông, chúng ta có thể kể đến như là: “Mục đích của con người kinh tế” (1939), “Tương lai của con người công nghiệp” (1942), “Khái niệm công ty” (1946), “Xã hội mới” (1950), “Thực tiễn quản lý” (1964), “Người quản lý có hiệu quả” (1966), “Không liên tục” (1969), “Bồi dưỡng người lãnh đạo doanh nghiệp tương lai” (1969), “Nhiệm vụ, trách nhiệm và thực tiễn của quản lý” (1974), “Quản lý thời biến động” (1980) và các bài viết “Kỹ thuật quản lý và xã hội”, “Con người tư tưởng và chính sách”...
Cuốn sách này là tác phẩm tiêu biểu nhất của Drucker, trình bày một cách toàn diện triết học quản lý và cách nhìn của ông về nhiệm vụ, trách nhiệm và thực tiễn quản lý. Cuốn sách được xuất bản năm 1974 bằng 3 thứ tiếng: Anh, Đức, Nhật, sau đó còn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nữa, được giới quản lý các nước hoan nghênh và đánh giá cao.
Các cuốn sách và bài báo của Drucker, cả mang tính học thuật và phổ biến, khám phá cách con người được tổ chức trong các lĩnh vực kinh doanh, chính phủ và phi lợi nhuận của xã hội. Ông là một trong những nhà tư tưởng và nhà văn nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng rộng rãi nhất về chủ đề lý thuyết và thực tiễn quản lý. Các bài viết của ông đã dự đoán nhiều sự phát triển lớn của cuối thế kỷ XX, bao gồm tư nhân hóa và phân quyền; sự vươn lên của Nhật Bản để trở thành cường quốc kinh tế thế giới; tầm quan trọng quyết định của marketing; và sự xuất hiện của xã hội thông tin với sự cần thiết của việc học tập suốt đời. Năm 1959, Drucker đặt ra thuật ngữ " công nhân tri thức", và sau này trong cuộc đời của ông coi năng suất của nhân viên tri thức là biên giới tiếp theo của quản lý.
Thứ hai, đối với cuốn sách “Nhiệm vụ của quản lý” này đã đi sâu nghiên cứu, phân tích vấn đề quản lý, nhưng trọng tâm nghiên cứu của nó không thuộc về kỹ xảo, công cụ và phương pháp quản lý mà là ở nhiệm vụ của quản lý.
Xuất phát từ nhiệm vụ quản lý, tác giả trước hết đã khảo sát vấn đề quản lý từ bên ngoài, đồng thời nghiên cứu phạm vi nhiêm vụ quản lý và điều kiện tất yếu về các mặt của nó (phần thứ nhất), sau đó mới chuyển sang nghiên cứu về công tác tổ chức và kỹ xảo của quản lý (phần thứ hai), đồng thời nghiên cứu vấn đề quản lý tầm cao và nhiệm vụ, cơ cấu chiến lược của nó (phần thứ 3).
2. Nghiên cứu trọng tâm của cuốn sách “Nhiệm vụ của quản lý”
Trọng tâm nghiên cứu của cuốn sách là nhân viên quản lý. Xuất phát điểm của cuốn sách là ở chỗ: Nhân viên quản lý cần phải biết những gì để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình.
Quản lý là một khoa học đồng thời là một loại “văn hóa”. Nó chịu ảnh hưởng của văn hóa nhưng cũng ảnh hưởng trở lại đến sự hình thành xã hội và văn hóa.
Xét đến cùng, quản lý là một hoạt động thực tiễn. Bản chất của nó không phải là “biết” mà là “làm”. Việc chứng minh sự đứng đắn của nó không phải là bằng nghiên cứu logic mà là kết quả thực tế, quyền uy duy nhất của nó là thành tựu trong công việc. Vì vậy, cuốn sách đi sâu vào những nguyên lý cơ bản chứ không phải là một tác phẩm triết học. Nó được hình thành từ thực tiễn và trở về với thực tiễn.
Theo Drucker, doanh nghiệp và hầu hết các tổ chức xã hội đều là những bộ phận trong toàn bộ guồng máy của xã hội. Sự tồn tại của chúng hoàn toàn là do chúng có thê’ đáp ứng một yêu cầu nào đó của xã hội mà quản lý chính là bộ máy của những tổ chức đó. Sự tồn tại của chúng hoàn toàn là do chúng có thể dùng chức năng của mình để phục vụ những tổ chức này. Vì vậy, không thể coi quản lý là một cái gì tổn tại độc lập mà chỉ có thể coi nó là phương tiện để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó.
3. Nhiệm vụ quản lý của cuốn sách
Để làm rõ quản lý, trước tiên cần phải làm rõ nhiệm vụ của quản lý, hoặc nói cách khác là cần phải làm rõ nhiệm vụ của quản lý thì mới có thể hiểu được qủan lý. Drucker cho rằng, nhiệm vụ của quản lý gồm có 3 điểm sau đây:
Thứ nhất là, mục đích đặc biệt và sứ mệnh của tổ chức đó (bất kể đó là một doanh nghiệp công thương nghiệp, một bệnh viện hoặc trường đại học).
Một tổ chức tồn tại là vì một mục đích và sứ mệnh đặc biệt nào đó, vì chức năng xã hội đặc biệt nào đó.
Thứ hai là, tạo ra súc hấp dẫn cho công việc, giúp nhân viên làm việc có hiệu quả.
Con người là nguồn lực cơ bản nhất của các tổ chức. Xí nghiệp công thương nghiệp (hoặc bất cứ một tổ chức nào khác) cần phải giúp nhân viên làm việc có phương pháp, khích lệ họ hoàn thành công việc, đồng thời tăng thêm sức sống cho xí nghiệp thông qua các công việc được hoàn thành.
Thứ ba là, đánh giá ảnh hưởng và trách nhiệm của tổ chức đối với xã hội.
Mỗi tổ chức đều là bộ máy của xã hội và tồn tại vì xã hội. Xí nghiệp công thương nghiệp cũng không nằm ngoài số đó. Xí nghiệp không thể tự đánh giá bản thân mà chỉ có thể căn cứ vào ảnh hưởng của nó đối với xã hội để đánh giá mình.
4. Đánh giá nhiệm vụ quản lý
Như đã nói ở mục 3, bao gồm có 3 nhiệm vụ như đã nêu. Ba nhiệm vụ nói trên đều rất quan trọng, không thể nói một nhiệm vụ nào trong số đó lại quan trọng nhất. Giành được thành tựu về mặt kinh tế là mục tiêu mà doanh nghiệp đeo đuổi và cũng là lý do tồn tại của nó.
Những nhiệm vụ này rõ ràng là vô cùng quan trọng. Nhưng nếu coi nhẹ việc quản lý đối với công việc và nhân viên thì không thể tạo ra sức sống cho công việc và làm cho nhân viên làm việc có hiệu quả, thành quả kinh tế của doanh nghiệp sẽ là một thứ giả tạo, thậm chí còn có thể phá hoại và cuối cùng làm cho xí nghiệp không kinh doanh nổi. Đồng thời, việc đánh giá sai ảnh hưởng của nó đối với xã hội sẽ làm doanh nghiệp mất đi sự ủng hộ của xã hội và cuối cùng hủy diệt chính bản thân doanh nghiệp. Vì thế, Drucker chỉ ra rằng, trong việc xử lý ba nhiệm vụ nêu trên, không thể chỉ coi trọng một nhiệm vụ mà coi thường các nhiệm vụ còn lại.
5. Quản lý là gì? Quản lý Doanh nghiệp
Thứ nhất, ta tìm hiểu về khái niệm quản lý.
Quản lý được hiểu là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Thuật ngữ "quản lý" cũng có thể chỉ những người quản lý một tổ chức.
Trong đó, quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
Thứ hai, về quản lý doanh nghiệp. Quản lý doanh nghiệp hay quản lý bất cứ cơ quan tổ chức nào cũng là một quá trình phức tạp và quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của tổ chức đó.
Có thể hiểu đơn giản Quản lý doanh nghiệp là quá trình làm việc cùng với và thông qua các cá nhân, các nhóm và các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đó. Quản lý doanh nghiệp được thử thách và đánh giá qua việc đạt được các mục tiêu thông qua sự tổ chức và thực hiện các kỹ năng khác nhau.
Khi nói về chủ thể quản lý doanh nghiệp, nhiều người thường nghĩ rằng người quản lý doanh nghiệp là người chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên thực tế không phải hoàn toàn như vậy.
Ở Việt Nam, theo khoản 18 điều 4 của Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.
=> Như vậy, chúng ta phải phân biệt được các chức danh của doanh nghiệp để hiểu một cách đúng đắn nhất về người quản lý doanh nghiệp.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)