1. Khái quát chung về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rõ ràng quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân liên quan đến hôn nhân và gia đình tại Điều 36 như sau: “1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. 2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Luật hôn nhân và gia đình đã cụ thể hóa các nguyên tắc này thành các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình.
Đe bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Luật hôn nhân và gia đình quy định rất rõ các hành vi liên quan đến hôn nhân và gia đình bị nghiêm cấm. Đồng thời, Luật hôn nhân và gia đình cũng khẳng định, “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật”. Theo đó, Luật hình sự đã tội phạm hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về hôn nhân và gia đình để thực hiện chức năng bảo vệ của mình.
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình vẫn được quy định trong chương riêng và gồm 7 tội danh. Trong đó, đã phi tội phạm hóa hành vi tảo hôn và hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật; đồng thời tội phạm hóa 3 hành vi là hành vi cưỡng ép ly hôn, hành vi cản trở ly hôn và hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

2. Tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

được quy định như thế nào?

Tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, lỵ hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trải với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tỉnh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vỉ phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

Cưỡng ép kết hôn bị kết án bao nhiêu năm tù ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

2. Bình luân

Theo điều luật, tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện có các dấu hiệu pháp lý sau:

2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
Theo quy định của điều luật, chủ thể của tội này còn đòi hỏi là người đã bị xử lý kỷ luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện - là một trong các dấu hiệu được quy định để phân biệt giữa tội phạm này với vi phạm hành chính.

2.2 Mặt khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm: Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng (trờ trường hợp chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi), hành vi cản trở ly hôn tự nguyện xâm phạm đến quyền được ly hôn của vợ, chồng, xâm phạm đến chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

2.3 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là các hành vi thuộc 02 nhóm hành vi sau:
Thứ nhất, nhóm hành vi cưỡng ép, bao gồm:
+ Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn;
+ Hành vi cưỡng ép người khác ly hôn.
Thứ hai, nhóm hành vi cản trở, bao gồm:
+ Hành vi cản trở người khác kết hôn;
+ Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân;
+ Hành vi cản trở người khác ly hôn.
Cưỡng ép được hiểu là hành vi “Ép cho phải làm điều trái ý muốn”. Theo đó, có thể hiểu:
+ Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn là hành vi ép người khác (người nam, người nữ hoặc cả hai) phải xác lập quan hệ vợ chồng với người nữ, người nam hoặc với nhau trái với ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này ép họ phải tiến hành các thủ tục cho việc kết hôn theo quy định của pháp luật.
+ Hành vi cưỡng ép người khác ly hôn là hành vi ép người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) phải thực hiện việc ly hôn trái ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này ép họ phải tiến hành các thủ tục cho việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Cản trở được hiểu là hành vi “gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng.” Theo đó có thể hiểu:
+ Hành vi cản trở người khác kết hôn là hành vi gây trở ngại cho người khác có đủ điều kiện kết hôn (người nữ, người nam hoặc cả hai) trong việc kết hôn theo ý muốn của họ. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc tiến hành các thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật gặp khó khăn, không dễ dàng.
+ Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân là hành vi gây trở ngại cho người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) trong việc tiếp tục quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ của họ. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc duy trì quan hệ hôn nhân của họ gặp khó khăn, không dễ dàng. Quan hệ hôn nhân ở đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, bao gồm hôn nhân có đăng ký kết hôn và hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận.
+ Hành vi cản trở người khác ly hôn là hành vi gây trở ngại cho người khác (người chồng, người vợ hoặc cả hai) trong việc thực hiện ly hôn. Cụ thể, hành vi này gây trở ngại, làm cho việc tiến hành các thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật của họ gặp khó khăn, không dễ dàng.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này là hành vi cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở người khác chấm dứt quan hệ hôn nhân của họ một cách tự nguyện.
Hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ là hành vi dùng các thủ đoạn khác nhau buộc người khác buộc phải lựa chọn việc lấy vợ, lấy chồng dù họ không muốn. Hành vi cản trở người khác kết hôn là hành vi ngăn cản việc kết hôn của một hoặc cả hai người thành vợ, thành chồng dù việc tiến tới hôn nhân không thuộc các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Hai loại hành vi này được thực hiện khi những người khác chưa thiết lập quan hệ hôn nhân.
Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ hoặc cưỡng ép người khác ly hôn tự nguyện là hành vi ngăn cản việc tiếp tục mối quan hệ vợ chồng được thiết lập sau khi kết hôn một cách hợp pháp buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện vọng của họ khi họ không muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân này. Hành vi cản trở người khác ly hôn tự nguyện là hành vi dùng các loại thủ đoạn khác nhau buộc người khác phải từ bỏ yêu cầu ly hôn mặc dù yêu cầu ly hôn xuất phát từ sự tự nguyện của họ một cách thuận tình giữa hai vợ chồng hoặc sự chủ động yêu cầu ly hôn của một bên vợ hoặc chồng khi họ mong muốn được ly hôn. Hành vi cản trở người khác duy trì mối quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ hoặc cưỡng ép người khác ly hôn tự nguyện được thực hiện khi những người khác đang tồn tại quan hệ hôn nhân.
Các thủ đoạn hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác mà Điều 181 BLHS năm 2015 đề cập được hiểu như sau:
+ Hành hạ là hành vi đối xử với người lệ thuộc mình dẫn tới những đau đớn về mặt thể chất như đánh đập, bỏ đói, bắt giữ, nhốt trói…
+ Ngược đãi là hành vi đối xử với người lệ thuộc mình dẫn tới những đau đớn về mặt tinh thần như mắng chửi, sỉ nhục hoặc hành vi khác làm người lệ thuộc cảm thấy nhục nhã, tủi hổ…
+ Uy hiếp tinh thần là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích căn bản của người khác như dọa gây thương tích, gây thiệt hại về tài sản, nhân phẩm, danh dự, công danh sự nghiệp cho người định lấy làm vợ, làm chồng…Uy hiếp tinh thần cũng có thể bằng việc người phạm tội dùng chính tính mạng, sức khỏe của họ để đe dọa như tuyên bố sẽ tự sát, sẽ từ chối chữa bệnh để cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân, cản trở ly hôn;
+ Yêu sách về của cải là hành vi đòi hỏi việc kết hôn phải thỏa mãn những điều kiện về kinh tế một cách phi lý, người đưa ra yêu sách biết rõ điều kiện mình đưa ra vượt quá khả năng kinh tế của phía bên kia mà phía bên kia phải đáp ứng được mới cho phép kết hôn như thách cưới, đòi của hồi môn với giá trị lớn nhằm ngăn cản, chia rẽ hai bên tiến đến hôn nhân.
+ Thủ đoạn khác là những hành vi khác trái pháp luật nhằm mục đích cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Thực tế cho thấy để cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, người phạm tội có thể sử dụng một trong những thủ đoạn trên hoặc không từ bất kỳ thủ đoạn nào để đạt được mục đích phạm tội. Việc phân định người phạm tội sử dụng thủ đoạn nào trong nhiều trường hợp cũng chỉ mang tính chất tương đối do thường gây ra cả những đau đớn cả về thể chất và tinh thần cho người bị cản trở, cưỡng ép.
Những hành vi nêu trên sẽ chỉ bị xử lý hình sự nếu trước đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này. Mặt khác, một điểm cần lưu ý là những hành vi ngược đãi, hành hạ đã là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện cho nên sẽ không truy cứu TNHS thêm về tội hành hạ người khác (Điều 140) hay tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình.

2.4 Dấu hiệu thủ đoạn phạm tội

Thủ đoạn phạm tội của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện được quy định là một trong các thủ đoạn sau:
+ Hành hạ: Là cách đối xử tàn ác đối với nạn nhân, gây cho họ sự đau đớn về thể xác, như thường xuyên đánh đập nhưng không đòi hỏi gây thương tích hoặc tổn hại đáng kể đến sức khoẻ của người khác.
+ Ngược đãi: Là cách đối xử tồi tệ đối với nạn nhân, gây cho họ sự đau khổ về tinh thần, như thường xuyên mắng chửi, sỉ vả, làm nhục...
+ Uy hiếp tinh thần: Là cách đe dọa sẽ dùng vũ lực gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản... làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ thực sự mà phải chịu làm theo yêu cầu của người đe dọa, như đe dọa sẽ giết, sẽ đánh hoặc sẽ đốt nhà...
+ Yêu sách của cải: Là cách đòi hỏi quá đáng về việc phải có tài sản dưới dạng hiện vật hoặc tiền, vàng, kim khí quý khác... cho bên yêu cầu để ép buộc người khác phải làm theo yêu cầu của mình, như thách cưới cao một cách không bình thường làm cho bên bị thách cưới không thể lo liệu được để lấy cớ không cho kết hôn...
+ Những thủ đoạn khác: Là những cách bất hợp pháp khác có tính chất tương tự như những thủ đoạn nêu trên, như dùng vũ lực đón đường bắt phụ nữ về làm vợ người khác hoặc bắt bên vợ hoặc cả hai bên vợ và chồng đưa đi xa để chia rẽ họ...

2.5 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Chủ thể thực hiện hành vi mặc dù biết hành vi đó là hành vi ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ; là hành vi cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; là hành vi cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn.
Điều luật quy định khung hình phạt là: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê