1. Đã dừng xe gây tai nạn có bị phạt tù không ?

Chào luật sư Minh Khuê, cho em hỏi vấn đề sau: Em và bạn đang ngồi chơi ở xóm, em đang ngồi trên xe máy đã đỗ thì có 1 chiếc xe máy khác đi cùng chiều và tông vào xe và người em. Người lái xe kia bị văng ra và bị thương nặng, bị trấn thương não. Khi đó xe em đã đỗ bên phải và gần sát lề bên phải, chỗ em đỗ có bóng điện chiếu sáng của nhà dân.
Theo hiện trường mà cảnh sát giao thông đo lại nói xe em đỗ cách mép đường 1.4m. Vậy cho em hỏi trường hợp của sẽ được giải quyết như nào theo pháp luật, em có sai không ? Liệu có bị đưa ra khởi tố hình sự không ?
Em cám ơn anh chị .

Luật sư tư vấn:

Trạng thái đỗ xe cần tuân thủ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Luật giao thông đường bộ năm 2008 như sau:

" Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ...

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ."

Đặc biệt, khi đỗ xe trên đường phố cần tuân thủ quy định tại Điều 19 Luật giao thông đường bộ như sau:

" Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau đây:

1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định."

Như vậy, ngoài khoảng cách với lề đường bạn cần đảm bảo việc đỗ xe theo quy định nêu trên. Trách nhiệm đối với bạn sẽ được phân tích trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Việc đỗ xe là đúng quy định pháp luật

Nếu việc đỗ xe là đùng quy định pháp luật thì bạn không có lỗi trong vụ tai nạn này. Theo đó, trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng không được đặt ra vì tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại. Cụ thể, Điều 585 BLDS 2015 quy định:

585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Trường hợp 2: Việc đỗ xe là trái quy định pháp luật

Về trách nhiệm hình sự:

Hành vi đỗ xe trái quy định pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 261 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017 ) như sau:

Điều 261. Tội cản trở giao thông đường bộ

1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyn trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy bin báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tại đèo, dốc, đường cao tốc hoặc đoạn đường nguy hiểm;

b) Làm chết 02 người;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Cản trở giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.

Theo đó hành vi đỗ xe trái phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 261.

Như vậy, Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bạn sẽ phụ thuộc vào việc xác định mức độ thiệt hại về sức khỏe, tài sản mà người bị thiệt hại phải chịu. Nếu đủ các yếu tố theo quy định trên bạn hoàn toàn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bạn có thể thỏa thuận với gia đình người bị thiệt hại về mức bồi thường thiệt hại hợp lý. Theo đó, việc bồi thường được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào quy định tại Điều 589, điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định.

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Mức bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực giao thông đường bộ?

>> Xem thêm:  Số tiền bồi thường tai nạn giao thông như thế nào là hợp lý ? Cần làm gì khi không thỏa thuận được ?

2. Gây tai nạn giao thông mà tránh mặt có sao không ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê,thưa luật sư em làm tài xế cho 1 công ty vận tải. Trên đường đi do tránh xe ngược chiều nên không may xảy ra tai nạn làm thiệt hại tài sản cho người khác số tiền là 192 triệu. Do không hiểu về luật nên e đã tránh mặt 1 thời gian. Bây giờ e muốn ra nhận trách nhiệm thì được biết công ty đã đền bù số tiền đó cho người bị hại.
Bản thân em trước kia không ký hợp đồng với công ty. Vậy nếu em ra đầu thú thì trách nhiệm của em phải chịu như thế nào. Và em có phải đền bù số tiền kia không ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 601 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Bộ luật dân sự năm 2015 thì chiếc xe do bạn điều khiển được xem là nguồn nguy hiểm cao độ. Về nguyên tắc thì: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguần nguy hiểm cao độ gây ra”. Tuy nhiên,theo khoản 2 mục 3 của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định như sau:

2. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

b) Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường.

Ví dụ: Các thỏa thuận sau đây là không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường:

- Thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;

- Thỏa thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường;

- Ai có điều kiện về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi thường thiệt hại trước.

Trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không theo đúng quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sỡ hữu phải bồi thường thiệt hại.

đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:

- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại.

- Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do đó, B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.

Do thông tin bạn cung cấp không rõ nên tôi xin tư vấn như sau:Căn cứ vào quy định trên cho thấy nếu bạn được công ty giao xe cho để thực hiện công việc của công ty và được trả tiền công thì khi có tai nạn xảy ra công ty sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường còn trường hợp công ty giao xe cho bạn qua hợp đồng thuê tài sản thì bạn sẽ là người chiềm, hữu sử dụng chiếc xe đó nên khi có tai nạn bạn có trách nhiệm bồi thường theo sự thỏa thuận của hai bên trường hợp không có lỗi mà pháp luật quy định bồi thường thì bạn cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường theo luật định. Mặt khác, thông tin bạn đưa ra là bạn không ký hợp đồng với công ty. Do đó khi ra đầu thú nếu bạn không được giao xe qua hợp đồng thuê tài sản thì bạn không phải chịu trách nhiệm và bồi thường số tiền mà công ty đã bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục khởi kiện người gây tai nạn giao thông làm thế nào ? Cách xác định số tiền được bồi thường ?

3. Đã bồi thường tai nạn giao thông thì có bị khởi tố không ?

Bạn em lái xe công gây tai nạn giao thông kết quả giám định của công an là do lỗi hỗn hợp của cả 2 bên. Bên bị hại xe chở 3 người điều khiển xe đó chưa có giấy phép lái xe (17 tuổi). Chạy xe bị hút vào xe công gây chết 1 người ngồi giữa 2 người còn lại chỉ bị xây sát nhẹ.
Bạn em đã bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bên đó cũng đã đồng ý không gửi đơn. Nhưng hôm nay bạn em lên công an giải quyết thì bên phía công an bảo vẫn khởi tố. Khi gâytai nạn bạn em là lái xe thuê cho công ty, có giấy phép lái xe và không uống rượu bia. Cho em hỏi trong trường hợp này bạn em có bị khởi tố hay không và nếu bị khởi tố thì mức hình phạt sẽ như thế nào ạ ?
Em cảm ơn.

Trả lời:

Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị

Theo quy định tại điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông :

"Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho s khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng."

Như vậy, trong trường hợp này bạn của bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì tai nạn xảy ra làm chết một người và tùy theo tính chất, mức độ của hành vi gây ra tai nạn thì mức hình phạt có thể là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

>> Xem thêm:  Quyền công dân trong quá trình điều tra vụ án hình sự là gì ? Cơ quan điều tra có nghĩa vụ, trách nhiệm gì ?

4. Có đơn bãi nại vụ án tai nạn chết người thì có bị phạ tù không ?

Chào luật sư, chồng tôi khi đang đi trên đường thì có người bất ngờ đi sang đường, do màu quần áo của người đó không nhìn rõ nên đã xảy ra va chạm với chồng tôi. Người đó đã mất trên đường chồng tôi đưa họ đi cấp cứu. Vợ chồng tôi cũng đã bồi thường cũng như hỗ trợ cho người nhà của nạn nhân một khoản tiền để lo ma chay. Tuy nhiên, chồng tôi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù đã có đơn bãi nại của gia đình nạn nhân. Tòa án tuyên chồng tôi 01 năm tù giam.
Vậy tôi muốn hỏi, có đơn bãi nại rồi mà chồng tôi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự có đúng không ?

Luật sư tư vấn:

Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại:

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1, các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Đơn bãi nại được hiểu là việc người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại rút yêu cầu và không tiếp tục khởi kiện vụ án hình sự nữa. Đơn bãi nại có tác dụng để đình chỉ vụ án với các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Theo thông tin bạn cung cấp, hành vi của chồng bạn liên quan đến các tội xâm phạm an toàn giao thông được quy định từ điều 260 đến điều 284, do đó, nếu hành vi của chồng bạn có đủ các yếu tố cầu thành tội phạm của tội liên quan đến xâm phạm an toàn giao thông thì chồng bạn vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, chồng bạn sẽ có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ theo Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về các tình tiết giảm nhẹ:

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;...

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;...

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Theo đó, Tòa án có thể quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho chồng bạn khi anh ấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, với mức hình phạt tù không qua 03 năm sẽ là một điều kiện để Tòa án xem xét cho chồng bạn được hưởng án treo theo khoản 1 điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

5. Cho trẻ vị thành niên mượn xe gây tai nạn có bị truy tố không ?

Thưa luật sư, Vào cuối tháng 12/2014 gia đình tôi đã mất đi một cháu trai ngoan hiền vì tai nạn giao thông. Sự việc xảy ra vào buổi cuối năm 2014 khi trên đường từ xã hồng lạc huyện sơn Dương- Tuyên quang về thôn phú thị xã chi thiết -SD - TQ .

Cháu đã bị một xe chở mía đi ngược chiều phóng nhanh, vượt ẩu, chở quá tải ( sau khi nghe giám định hiện trường) va phải và cháu tôi đã mất sau khi nằm viện cấp cứu 2 ngày do đa trấn thương (nói thêm cháu chưa đủ 18t và chưa có giấy phép lái xe).

+ Sau khi sự việc sảy ra sau nhiều lần gia đình tôi dục thi gia đình nhà có xe mía đã suống thỏa thuận (vi là người cùng làng, xóm cả hai cũng muốn êm đẹp) và đền về mặt dân sự là 60tr đồng.
- Cho tới tháng 4/2015 đội điều tra công an huyện sơn dương về đọc quyết định khởi tố bị can (là anh trai tôi bố của chau mất) với tôi cho người chưa đủ 18 tuổi mượn xe (nói thêm thật tình trong gia đình cháu lấy xe đi bố, mẹ không đk biết)

Xin hỏi các bạn,anh,chi,các bác những vấn đề sau đây:
a, Công an dựa vào điều nào, điểm nào của bộ luật nào khởi tố Anh tôi?
b, Tôi phải làm gì để giải quyết hộ anh?
c, Nếu truy tố mức án sẽ như thế nào?
Tôi rất mong được toàn thể mọi người giúp tôi vi nhìn anh/chị khóc suốt ngày khi đứa con trai duy nhất qua đời giờ bố lại chuẩn bị đi tù.

Mọi ý kiến dúp đỡ xin gửi hòm thư

Người hỏi: HT Binh

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành trường hợp của anh trai bạn không cấu thành tội nào cả, bởi vì cháu chị lấy xe đi anh trai chị không hề biết, anh trai chị không có hành vi giao xe cho cháu chị đi. Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để khởi tố anh trai bạn. Do vậy, anh trai bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ quy định tại Điều 264 BLHS 2015 SĐBS 2017:

Điều 264. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đng đến 50.000.000 đng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tn thương cơ th61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tn thương cơ thcủa những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn có thể liên lạc để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn trực tiếp gọi 1900.6162

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?