Vậy Luật sư cho tôi hỏi mảnh đất mà tôi đã mua liệu có bị coi là tài sản chung của cả hai vợ chồng hay không? Nếu tôi bán mảnh đất đó đi thì tôi có tự một mình bán được hay không?  Tôi có cần phải được sự đồng ý của cả vợ tôi nữa hay không?

Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư. 

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân gia đình về tài sản chung, gọi:  1900.1975

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về thoả thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, thì:

Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng nêu quy định:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Còn tại Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung có nêu quy định:

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Mặt khác, theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như bạn có trình bày ở trên, thì bạn có mua một thửa đất khi bạn đã đăng ký kết hôn và trước đó bạn cũng không có bất kỳ một thỏa thuận nào với vợ về việc xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, thì mảnh đất mà bạn mua được khi bạn đã đăng ký kết hôn là tài sản chung của hai vợ chồng, như vậy có nghĩa là mọi hoạt động giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn, thế chấp bằng quyền sử dụng đất này đều phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng,

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.1975 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê