Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung về giải thể doanh nghiệp
- 2. Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
- 2.1 Hậu quả pháp lý, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của DN về pháp lý và thực tế
- 2.2 Thủ tục giải thể doanh nghiệp là một thủ tục hành chính
- 2.3 Lý do giải thể
- 2.4 Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh nghiệp
- 3. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
1. Khái quát chung về giải thể doanh nghiệp
Trong một vòng đời của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh thì thường được chia làm bảy giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn “gieo hạt”, khởi động, phát triển, ổn định, mở rộng, suy thoái và cuối cùng là tan rã. Trong đó, “tan rã” là giai đoạn mà chủ thể doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, rút lui ra khỏi thị trường. Trong khoa học pháp lý, việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp thông thường được thực hiện dưới nhiều cách thức khác nhau và phổ biến hiện nay là giải thể doanh nghiệp.
Dưới góc độ ngôn ngữ: Trong tiếng anh, khái niệm giải thể được sử dụng bởi nhiều thuật ngữ như: “disband” hay “break up” nhưng thông dụng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất để chỉ sự chấm dứt tồn tại của một doanh nghiệp, tổ chức trong các văn bản pháp lý là thuật ngữ “dissolution”.
Theo từ điển tiếng Việt, “giải thể có nghĩa là không còn hoặc làm cho không còn đủ điều kiện tồn tại như một tổ chức nữa, các thành viên phân tán đi”. Theo đó, khi doanh nghiệp không còn hoặc bị làm cho không còn đủ điều kiện tồn tại, các thành viên trong doanh nghiệp phân tán đi, không còn liên kết với nhau nữa thì doanh nghiệp đó sẽ giải thể. Hay nói cách khác giải thể doanh nghiệp là một cách “khai tử” cho doanh nghiệp.
Dưới góc độ pháp lý: Theo từ điển Luật học, giải thể doanh nghiệp là “thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, với tư cách là một chủ thể kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ”. Giáo trình Luật Doanh nghiệp – Trường Đại học Luật Hà Nội: “Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp” [22, tr.419]; Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội: “Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp luật dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp”
Qua đây, có thể thấy về cơ bản dưới góc độ pháp lý khái niệm giải thể doanh nghiệp được hiểu khá tương đồng nhau. Theo đó, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Đây không phải là một sự kiện pháp lý mà là một quá trình theo quy định của pháp luật. Trong đó, pháp luật quy định cụ thể các trường hợp giải thể, điều kiện giải thể doanh nghiệp khi doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác cũng như các nghĩa vụ hợp đồng khác với các bên có liên quan; đồng thời không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài; thủ tục giải thế.
Như vậy, có thể thấy: giải thể doanh nghiệp là quá trình dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài.
2. Đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
Chủ sở hữu doanh nghiệp tiến hành giải thể doanh nghiệp khi thấy sự tồn tại của doanh nghiệp không còn cần thiết hoặc doanh nghiệp bị giải thể theo quy định của pháp luật. Và để doanh nghiệp được giải thể thì phải tuân theo một trình tự pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, các cổ đông hoặc thành viên của công ty khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Khi tìm hiểu về đặc điểm của giải thể doanh nghiệp thì có những đặc điểm sau đây:
2.1 Hậu quả pháp lý, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của DN về pháp lý và thực tế
Giải thể doanh nghiệp dẫn đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp bị chấm dứt, tên của doanh nghiệp trong sổ đăng ký doanh nghiệp bị xóa, mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều bị dừng lại; các doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý tài sản, các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp đó không còn tồn tại trên thị trường từ thời điểm Cơ quan đăng ký kinh doanh hoàn thành thủ tục xóa tên trong sổ đăng ký.
2.2 Thủ tục giải thể doanh nghiệp là một thủ tục hành chính
Trái với thủ tục phá sản mang tính tố tụng tư pháp khi yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thủ tục giải thể doanh nghiệp là một thủ tục hành chính, được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và do cơ quan hành chính thực hiện như: chấm dứt hiệu lực của mã số thuế; nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp, hủy con dấu, xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký doanh nghiệp,… Mục đích của hoạt động hành chính này suy cho cùng là để đảm bảo lợi ích của các chủ nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, về nguyên tắc, khi doanh nghiệp chưa thanh toán hết các khoản nợ mà Cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp thì chính cơ quan này phải chịu trách nhiệm “trả nợ thay”.
2.3 Lý do giải thể
Lý do giải thể có thể bị bắt buộc do doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật hoặc từ ý chí tự nguyện của chủ doanh nghiệp. Cụ thể:
Giải thể doanh nghiệp mang tính tự nguyện xuất phát từ ý chí của các chủ sở hữu doanh nghiệp (chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân; tất cả các thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Hội đồng thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên, Đại hội đồng cổ đông của Công ty cổ phần), chẳng hạn: chủ sở hữu doanh nghiệp không muốn tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh nữa do tỷ suất lợi nhuận không cao, mâu thuẫn nội bộ doanh nghiệp, triển vọng kinh tế trong lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp không có nhiều hứa hẹn trong tương lai; kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ mà không có quyết định gia hạn… Trong trường hợp này chủ sở hữu doanh nghiệp có thể đi đến quyết định giải thể để thu hồi vốn hoặc chuyển sang kinh doanh những loại hình doanh nghiệp khác, kinh doanh với những chủ thể khác.
Bên cạnh đó, cũng có trường hợp doanh nghiệp buộc phải giải thể theo một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm, như: nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo; doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo cho Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan Thuế… Trong trường hợp này, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là chủ thể ra quyết định giải thế doanh nghiệp chứ không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp.
2.4 Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh nghiệp
Một doanh nghiệp chỉ được phép giải thể khi doanh nghiệp đó đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp; không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài.Đây là một trong những đặc trưng khi giải thể doanh nghiệp. Doanh nghiệp trước khi tiến hành chấm dứt sự tồn tại của mình trên thị trường phải đảm bảo hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính, khoản nợ mà bên này xác lập đối với các bên, các nghĩa vụ khác của hợp đồng theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan. Sau khi giải quyết mọi khoản nợ và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp thì mọi tài sản còn lại của doanh nghiệp được phân chia cho các thành viên hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp. Có thể thấy rằng, đây là một điều kiện tiên quyết, để cơ quan có thẩm quyền chấp nhận việc giải thể của doanh nghiệp. Nếu không để chấm dứt sự tồn tại của mình, doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành theo thủ tục phá sản.
"Điều 207. Các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp sau đây:
a) Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;
b) Theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
d) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác.
2. Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp."
Theo đó, về trường hợp giải thể: doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp: kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đổi với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sờ hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có qụy định khác.
Về điều kiện: doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp.
Như vậy, điều luật đâ quy định rõ về điều kiện đẻ doanh nghiệp giải thể.
3. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
Theo Điều 208 Luật doanh nghiệp 2020 có quy định cụ thể như sau:
"Điều 208. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp
Việc giải thể doanh nghiệp trong trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 207 của Luật này được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Thông qua nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
b) Lý do giải thể;
c) Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp;
d) Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
đ) Họ, tên, chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị;
2. Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng;
3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, nghị quyết, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể phải được đăng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích có liên quan. Phương án giải quyết nợ phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ;
4. Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi nhận được nghị quyết, quyết định giải thể của doanh nghiệp. Kèm theo thông báo phải đăng tải nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ (nếu có);
5. Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
b) Nợ thuế;
c) Các khoản nợ khác;
6. Sau khi đã thanh toán chi phí giải thể doanh nghiệp và các khoản nợ, phần còn lại chia cho chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty theo tỷ lệ sở hữu phần vốn góp, cổ phần;
7. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp;
8. Sau thời hạn 180 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết, quyết định giải thể theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
9. Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp."
Theo đó, việc giải thể doanh nghiệp trong trường hợp: kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được thực hiện như sau:
- Thông qua nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; lý do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động; họ, tên, chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài
sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng;
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, nghị quyết, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể phải được đãng trên cổng thông tin quốc gia về đãng ký doanh nghiệp và được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, vãn phòng đại diện của doanh nghiệp.
- Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo nghị quyết, quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích có liên quan. Phương án giải quyết nợ phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định như sau: “Thông qua nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp. Nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp phải bao gồm họ, tên, chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị”. Sửa đổi nêu trên đã ghi nhận vai trò của chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ sở hữu công ty, Chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị trong việc giải thế doanh nghiệp, góp phần điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục giải thể trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vắng mặt.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê