1. Tìm hiểu quy định pháp luật về đại diện

Trong đời sống hàng ngày, để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, con người bắt buộc phải tham gia vào rất nhiều các giao dịch dân sự khác nhau. Có những trường hợp các chủ thể sẽ tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong nhiều trường hợp các chủ thể không thể hoặc không muốn tự minh tham gia vào một số giao dịch nhất định. Lúc này, họ cần đến một người có thể thay mặt họ xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự “nhân danh và vì lợi ích” của họ. Xuất phát từ nhu cầu và sự thừa nhận các dạng quan hệ này trong thực tế, pháp luật dân sự đã ghi nhận quan hệ đại diện cũng như các cơ chế để thực hiện quan hệ này.

Đại diện là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự, được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những quốc gia theo hệ thống Civil Law cũng như các quốc gia theo hệ thống Common Law. Tại quốc gia theo hệ thống Common Law thậm chí còn có cả một học thuyết riêng về đại diện (Law of Agency); còn ở những quốc gia theo hệ thống Civil Law, ở những mức độ khác nhau, các quy định về đại diện cũng được ghi nhận từ rất sớm trong các Bộ luật Dân sự.

Điển hình như Điều 389-1 và 389-3 Bộ luật Dân sự Pháp quy định:

"Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên trong mọi giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật hoặc thông lệ cho phép người chưa thành niên tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sụóữ; hay Điều 1984 Bộ luật Dân sự Pháp: “Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng theo đó, một người trao cho người khác quyền thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền chỉ được giao kết khi có sự đồng ý của người được ủy quyền”.

Theo các quy định trên thì đại điện được hiểu là việc một người thay mặt một người khác thực hiện công việc của người đó, vì lợi ích của người đó. Cụ thể hoìi, Điều 797 Bộ luật Dân sự và Thưorng mại Thái Lan đưa ra định nghĩa:

đại diện là một hợp đồng mà bởi nó, một người, được gọi là người đại diện, có quyền hành động cho người khác, được gọi là người đại diện, và đồng ý hành động như vậy. Đại diện có thể minh thị hoặc ngầm định ”.

Tương tự, khoản 1 Điều 99 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định:

“Người đại diện thể hiện ý chí cũng như hành động thay mặt người được đại diện trong phạm vi thẩm quyền đại diện sẽ ràng buộc người được đại diện ”.

Chế định đại diện cũng được đề cập đến trong các văn bản mang tính quốc tế như: Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của Unidroit, Nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu, Luật thống nhất về thương mại của OHADA, Công ước của Unidroit về đại diện trong mua bán hàng hoá quốc tế, Công ước Hague về luật áp dụng đối với đại diện. Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành một chương riêng (Chương IX) để quy định về đại diện. Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

“Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Với quy định này, đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện. Theo đó, người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại điện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. So với Bộ luật Dân sự những năm trước đấy đã bổ sung pháp nhân cũng có thể là người đại diện. Trước đây, khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm trước quy định.

“Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện ”

Cùng với đó, khoản 5 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm trước tiếp tục khẳng định:

“Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ ".

Điều này dẫn đến cách hiểu người đại diện chỉ có thể là cá nhân, bởi lẽ chỉ cá nhân mới có “năng lực hành vi dân sự".

>> Xem thêm:  Chấm dứt đại diện là gì ? Quy định về chấm dứt việc đại diện như thế nào ?

Hệ quả là trong thực tiễn xét xử, đã có Tòa án đã từ chối người đại diện là pháp nhân,

“Tòa án không thừa nhận khả năng đại diện của pháp nhân khi không có quy định cụ thể cho phép pháp nhân đại diện cho người khác ”.

Trong khi đó, trong các văn bản luật chuyên ngành như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) tại Điều 69, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 tại các Điều 44, 45 đều thừa nhận pháp nhân có thể là người đại diện.

Để tạo sự thống nhất trong các quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu thực tế, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Với quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã trực tiếp khẳng định, pháp nhân cũng có thể là người đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác.

Người đại diện là người trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, do đó, người đại diện phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể. Cụ thể:

“Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện” (khoản 3 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Việc bổ sung cụm từ “người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự' nhằm khẳng định rõ hơn tư cách làm người đại diện của pháp nhân. Đồng thời, đối với cá nhân, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không đòi hỏi cá nhân phải có “năng lực hành vỉ dân sự đầy đủ" như trong Bộ luật Dân sự năm trước đó cũng chỉ yêu cầu có “năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện Điều đó có nghĩa, trong một số trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cũng có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện theo Khoản 3 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Giống người đại diện, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người được đại diện cũng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. So với Bộ luật Dân sự năm trước đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ hộ gia đìnhtổ hợp tác" ra khỏi phạm vi người được đại diện. Điều này hoàn toàn hợp lý vì Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn ghi nhận hộ gia đình và tổ hợp tác là chủ thể độc lập của quan hệ pháp luật dân sự. Do đó, việc loại bỏ các chủ thể này ra khỏi phạm vi người được đại diện là cần thiết để đảm bảo sự thống nhất trong văn bản. Khác với người đại diện, người được đại diện không tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đáp ứng thông qua hành vi của người đại diện. Chính vì vậy, trong một số trường hợp (đối với đại diện theo pháp luật), điều kiện về năng lực chủ thể không được đặt ra đối với những người này.

Đại diện là một quan hệ pháp luật đặc biệt bởi lẽ khi quan hệ đại diện được xác lập sẽ làm hình thành ít nhất hai quan hệ: Một là, quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện; Hai là, quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba. Trong đó, mối quan hệ nền tảng là mối quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện. Đây là mối quan hệ quyết định những giá trị lợi ích mà người được đại diện sẽ được hưởng. Mối quan hệ này được hình thành theo nhiều con đường khác nhau, có thể được hình thành theo ý chí của Nhà nước (đại diện theo pháp luật), cũng có thể được hình thành theo ý chí của các bên (đại diện theo ủy quyền). Khi mối quan hệ này được xác lập sẽ là tiền đề để hình thành mối quan hệ thứ hai là mối quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba.

Trong mối quan hệ với người thứ ba, người đại diện xác lập quan hệ nhân danh người được đại diện và vì lợi ích của người được đại diện chứ không phải nhân danh và vì lợi ích của chính người đại diện. Do vậy, trong phạm vi và thời hạn đại diện, mọi giao dịch dân sự được xác lập giữa người đại diện với người thứ ba đều làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.

Đối với những cá nhân bị mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, do những hạn chế về thể lực và trí lực, việc trực tiếp tham gia, xác lập các giao dịch dân sự có khả năng mang lại hậu quả bất lợi cho những chủ thể này. Chính vì vậy, hình thức đại diện theo pháp luật là một giải pháp an toàn, hiệu quả giúp những chủ thể này được hưởng mọi quyền và lợi ích hợp pháp thông qua những giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện vì lợi ích của họ.

>> Xem thêm:  Chấm dứt tư cách người đại diện của đương sự khi nào ?

Đối với pháp nhân, vốn là một “con người pháp lý” và không phải là con người sinh học nên việc tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân bắt buộc phải được thực hiện thông qua các hành vi của cá nhân. Cá nhân đó có thể là người đại diện theo pháp luật, có thể là người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân.

Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, về cơ bản, cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người đại diện, tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật có quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch đó. Ví dụ, cá nhân không thể ủy quyền cho người đại diện cho mình trong việc kết hôn hay khi còn sống cá nhân không thể ủy quyền cho người đại diện thay mình thực hiện việc đồng ý hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết.

Đại diện có hai loại: Đại diện có đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền.

Đại diện theo pháp luật do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Theo quy định của Bộ luật dân sự, người đại diện theo pháp luật bao gồm: cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người được Toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với pháp nhân; chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác.

Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện theo pháp luật và người đại diện thông qua hợp đồng uỷ quyền hoặc giấy uỷ quyền. Người đại diện theo uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận.

Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.

2. Khái niệm đại diện theo luật dân sự ?

Trong giao lưu dân sự, các chủ thể có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhưng ưong những trường họp nhất định có thể thông qua hành vi của người khác là người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền của mình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự...

>> Xem thêm:  Người đại diện của đương sự là gì ? Có những loại người đại diện nào ?

Đại diện là một quan hệ pháp luật. Chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại diện. Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba, vì lọi ích của người được đại diện. Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lí từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện. Người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi, chưa đủ năng lực hành vi nên theo quy định của pháp luật phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật. Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có thể uỷ quyền cho người khác là đại diện theo uỷ quyền của mình. Pháp nhân hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó.

Quan hệ đại diện có thể được xác định theo quy định của pháp luật, có thể được xác định theo ý chí cùa các chủ thể tham gia, thể hiện bằng giấy uỷ quyền hoặc hợp đồng uỷ quyền. Trong phạm vi thẩm quyền đại diện, người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, đem lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện.

3. Cách phân loại quan hệ đại diện

Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, đại diện được chia thành hai loại là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.

3.1 Đại diện theo pháp luật

Đại diện theo pháp luật là đại diện được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 135 BLDS năm 2015).

Đại diện được quy định theo pháp luật chung là đại diện mặc nhiên, ổn định về người đại diện, về thẩm quyền đại diện... Đó là các trường hợp: Cha, mẹ đại diện cho con vị thành niên, người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân, người giám hộ đương nhiên đại diện cho người được giám hộ. Đại diện theo "quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" là đại diện theo quyết định của cơ quan hành chính trong những trường hợp riêng biệt. Đó là các trường hợp: Người giám hộ cử đối với người được giám hộ, người được toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong một số trường hợp nhất định người đứng đầu pháp nhân có thể được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đại diện theo pháp luật là đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật. Trong Bộ luật Dân sự hiện hành cũng ghi nhận về đại diện theo pháp luật này và quy định tại Điều 135. Đại diện theo pháp luật bao gồm: đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

Đại diện theo pháp luật của cá nhân. Đại diện theo pháp luật của cá nhân đặt ra trong trường hợp khi cá nhân không thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự do những hạn chế về độ tuổi (là người chưa thành niên) hoặc do hạn chế về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi (người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi). Nói cách khác, những chủ thể này không có khả năng hoặc chưa đủ khả năng tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự. Do đó, để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể này, Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm:

>> Xem thêm:  Quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự ?

Cha, mẹ đổi với con chưa thành niên. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Dưới góc độ tâm lý học và sinh học thì người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, hoàn thiện cả về thể chất, tâm sinh lý, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ nhất các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia các giao dịch dân sự. Việc tự tham gia, xác lập các giao dịch dân sự sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ mang lại các hậu quả pháp lý bất lợi cho họ. Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người chưa thành niên, pháp luật quy định cha, mẹ sẽ là người đại diện theo pháp luật, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của con chưa thành niên.

Người giám hộ đổi với người được giám hộ. Người giám hộ là người đại diện theo pháp luật của người được giám hộ: Một là, giám hộ đối với người thưa thành niên khi rơi vào các trường hợp luật định, bao gồm: 1. đối với người được giám hộ là người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; 2. Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; 3. Cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; 4. Cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; 5. Cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; 6. Cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì người đại diện theo pháp luật (cũng chính là người giám hộ) của những người này có thể là một trong số những người sau (Điều 52 Bộ luật Dân sự năm 2015): Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả của người chưa thành niên hoặc anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo của người chưa thành niên. Trường hợp không có anh ruột, chị ruột thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại sẽ là người đại diện theo pháp luật người chưa thành niên; Trường hợp không có ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột ngoại sẽ là người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên; Hai là, đối với người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của những người này được xác định như sau: nếu vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người đại diện theo pháp luật và ngược lại; nếu cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người đại diện theo pháp luật của cha, mẹ; nếu người con cả không có đủ điều kiện thì người con tiếp theo có đủ điều kiện sẽ là người đại diện theo pháp luật của cha, mẹ; Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật cho con; Ba là, đối với người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định. Khi được Tòa án chỉ định làm người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người giám hộ cũng đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người này.

Người do Tòa án chỉ định. Trong trường hợp không xác định được người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật cho các cá nhân đó. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự như người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn che năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật cho người này. Người được Tòa án chỉ định sẽ trở thành người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

Liên quan đến đại diện theo pháp luật của pháp nhân, một trong những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với các Bộ luật Dân sự trước đó chính là nhiều người đại diện theo pháp luật cho một pháp nhân và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân nếu giao dịch đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (theo Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 184 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Trước đây, Bộ luật Dân sự năm trước có quy định, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ có thể là một người. Cùng với đó, Luật Doanh nghiệp năm trước đó cũng quy định, mỗi doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật (trừ công ty hợp danh thì “các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật”15). Việc quy định mỗi pháp nhân nói chung và doanh nghiệp nói riêng chỉ có một người đại diện theo pháp luật đã gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc cho hoạt động của pháp nhân, doanh nghiệp, đặc biệt là với những doanh nghiệp có quy mô lớn, với nhiều chi nhánh, vãn phòng đại diện tại các tỉnh thành khác nhau. Chính vì vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã cho phép công ty TNHH và công ty cổ phần có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật (Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2015). Quan điểm lập pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn nên đến Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật đã chính thức ghi nhận: “Mỗi pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật”11. Điều này thể hiện sự nhất quán trong tư duy của các nhà lập pháp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của pháp nhân được xuyên suốt, không bị gián đoạn.

3.2 Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của các cá nhân hay pháp nhân với người được uỷ quyền. Quan niệm này được luật hoá tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự hiện hành. Đại diện theo ủy quyền bao gồm: đại diện theo ủy quyền của cá nhân và đại diện theo ủy quyền của pháp nhân.

Đại diện theo ủy quyền của cá nhân được xác lập giữa một bên (bên ủy quyền) là cá nhân và bên kia (bên được ủy quyền) là cá nhân hoặc pháp nhân khác. Nếu như trong đại diện theo pháp luật của cá nhân chỉ đòi hỏi một bên chủ thể là người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện, còn bên kia (người được đại diện) có thể là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì trong đại diện theo ủy quyền, cả bên đại diện và bên được đại diện đều phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện (Khoản 3 Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2015).

Trong đại diện theo ủy quyền, quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện. Sự ủy quyền này được thể hiện dưới các hình thức: Một là, hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng uỷ quyền được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền. Hình thức này thường được áp dụng đối với đại diện theo ủy quyền của cá nhân và đại diện theo ủy quyền của pháp nhân; Hai là, giấy ủy quyền. Giấy uỷ quyền là hành vi pháp lý đơn phương của người ủy quyền với người được ủy quyền. Hình thức này được áp dụng rất phổ biến trong hoạt động của pháp nhân. Đối với các cá nhân với nhau cũng có thể áp dụng hình thức giấy uỷ quyền này và nếu như người nhận được giấy uỷ quyền mà thực hiện theo các điều kiện được ghi trong giấy thì coi như chấp nhận và thực hiện theo yêu cầu của người uỷ quyền đối với mình, lúc này hình thành nên quan hệ uỷ quyền.

Trước đây, Bộ luật Dân sự năm trước đó có quy định, hộ gia đình, tổ hợp tác cũng là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, tuy nhiên, theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các tổ chức không có tư cách pháp nhân như hộ gia đình, tổ hợp tác không còn được coi là chủ thể độc lập khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự mà tham gia với tư cách nhiều cá nhân là thành viên của tổ hợp tác hoặc hộ gia đình. Các thành viên này có thể cùng tham gia hoặc thoả thuận để cử người đại diện cho mình tham gia vào từng giao dịch cụ thể. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì người xác lập và thực hiện giao dịch đó là cá nhân được các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân ủy quyền (khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Có nhiều lí do khác nhau để cá nhân, người đứng đầu pháp nhân, các thành viên hộ gia đình, các thành viên tổ hợp tác... không thể trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Pháp luật cho phép họ có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia giao dịch.

Khác vói đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, đại diện theo uỷ quyền là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên - bên đại diện và bên được đại diện, biểu hiện qua hợp đồng uỷ quyển hoặc giấy uỷ quyền. Nội dung uỷ quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo uỷ quyền được xác định thông qua sự thoả thuận của người đại diện và người được đại diện.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào thị bị tạm khóa, đóng, phong tỏa tài khoản thanh toán của ngân hàng ?

Ủy quyền là phương tiện pháp lí cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia tình, tổ hợp tác bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thoả mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm.

Ngoại lệ, có một số trường hợp pháp luật không cho phép xác lập giao dịch thông qua người đại diện (bất kể đại diện theo pháp luật hay theo uỷ quyền) như lập di chúc...

Người đại diện (cả người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền) có thể là cá nhân hoặc pháp nhân (nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ). Ngoại lệ, riêng đối với đại diện theo uỷ quyền thì người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Quy định về phạm vi và thẩm quyền đại diện

Người đại diện thực hiện hành ví nhân danh người được đại diện. Bởi vậy, cần phải có giới hạn nhất định cho hành vi đó. Giới hạn này là phạm vi thẩm quyền đại diện. Việc xác định phạm vi thẩm quyền đại diện có ý nghĩa quan ttọng: Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự ttong phạm vi đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ và ttách nhiệm của người được đại diện. Trường hợp không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện, thì về nguyên tắc người đại diện phải tự chịu trách nhiệm (các điều 141, 142 và 143 BLDS năm 2015).

Phạm vi thẩm quyền đại diện là giới hạn quyền, nghĩa vụ theo đó người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba.

Tuỳ thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo uỷ quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện được xác định khác nhau (khoản 1 Điều 141 BLDS năm 2015).

Bản chất của đại diện là việc người đại diện thay mặt người được đại diện xác lập và thực hiện các hành vi pháp lý nhất định, về nguyên tắc, những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện các hành vi pháp lý này sẽ xác lập cho người được đại diện khi hành vi được thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện. Có thể hiểu, phạm vi đại diện là giới hạn những quyền và nghĩa vụ mà theo đó người đại diện được phép nhân danh và thay mặt người được đại diện xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý nhất định đối với người thứ ba. Đây là một trong những vấn đề pháp lý rất quan trọng liên quan đến quan hệ đại diện.

Căn cứ vào từng hình thức đại diện khác nhau mà việc xác định phạm vi đại diện cũng phụ thuộc vào những tiêu chí khác nhau. Cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Mẫu Tờ khai yêu cầu sửa đổi đơn đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp (Mẫu số: 01-SĐĐ)

- Đại diện theo pháp luật:

Phạm vi đại diện theo pháp luật của cá nhân: Người đại diện theo pháp luật của cá nhân có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự phù hợp với phạm vi đại diện được ghi nhận trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật. Cụ thể, trường hợp một cá nhân do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà dẫn đến không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự) thì căn cứ vào những điều kiện nhất định, Tòa án ra quyết định tuyên bố cá nhân đó khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Quyết định sẽ chỉ định cụ thể: người giám hộ cho người này, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ. Bên cạnh người khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, quyết định của Tòa án tuyên bố một cá nhân hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng cần chỉ định người đại diện theo pháp luật cho người này. Thật vậy, người hạn chế năng lực hành vi về bản chất hoàn toàn có khả năng chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình, do đó không đặt ra vấn đề giám hộ đối với người này. Tuy nhiên, với bản chất “phá tán tài sản của gia đình" mà các hành vi pháp lý người này thực hiện trong thực tiễn có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác. Pháp luật quy định trong trường hợp này Tòa án phải quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời quy định cụ thể về phạm vi đại diện. Điểm đặc biệt trong tư cách của người đại diện theo pháp luật cho người hạn chế năng lực hành vi dân sự là ở chỗ: người đại diện trong trường hợp này đóng vai trò là người “đồng ý" hay “không đồng ý” cho việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của người hạn chế năng lực hành vi dân sự, bản thân người đại diện không trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch mà việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản sẽ do chính người hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện. Đương nhiên, đối với những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày, việc xác lập, thực hiện giao dịch không cần thông qua ý kiến của người đại diện theo pháp luật.

Phạm vi đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Pháp nhân có thể được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể căn cứ vào Quyết định thành lập pháp nhân, hoặc Điều lệ của pháp nhân. Do đó, việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện cũng có thể căn cứ vào nội dung những văn bản này. Với mục đích tạo nên một cơ chế linh hoạt, thúc đẩy tối đa sự phát triển trong quá trình hoạt động của pháp nhân, pháp luật hiện hành ghi nhận và cho phép một pháp nhân có thể có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Đây là quy định hoàn toàn phù họp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đồng thời đưa pháp luật Việt Nam tiệm cận hơn với pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Theo đó, pháp nhân được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật và có quyền chỉ định người đại diện trong Điều lệ hoạt động của mình. Tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động khác nhau của pháp nhân mà người đại diện theo pháp luật được phép xác lập, thực hiện những hành vi pháp lý trong giới hạn nhất định. Mọi hành vi nhận danh và vì lợi ích của pháp nhân phù hợp với “giới hạn” này được coi là hành vi của pháp nhân và xác lập các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho chính pháp nhân mà người đó nhân danh. Trong trường hợp này, cần thiết phải thông báo và công khai phạm vi đại diện cho phía bên kia của giao dịch để việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự được minh bạch hóa, hạn chế tối đa những rủi ro pháp lý về sau. Nói một cách khác, các đối tác khi ký kết giấy tờ, tham gia giao dịch với pháp nhân phải yêu cầu cung cấp giấy tờ xác định phạm vi thẩm quyền của người đại diện làm việc với mình. Giấy tờ này phải coi là giấy tờ kèm theo bộ hồ sơ để chuẩn bị cho các giao dịch được ký kết, xác lập.

Thẩm quyền đại diện của những người đại diện theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện trong quyết định cử người đại diện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác lập quan hệ đại diện này thường không phụ thuộc vào ý chí của người được đại diện. Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường họp pháp luật quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định khác.

Trong trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có một số nét đặc biệt riêng. Chính người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nhưng với sự chấp thuận của người đại diện. Người đại diện chỉ đóng vai ưò giám sát, đồng ý hay không đồng ý cho xác lập giao dịch. Nếu giao dịch đó không làm ảnh hưởng đến lợi ích của chính người đại diện, của những người thân thích trong gia đình của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện cho phép người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện giao dịch.

- Phạm vi đại diện theo uỷ quyền: Phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo uỷ quyền được xác định ttong chính văn bản uỷ quyền. Người đại diện theo uỷ quyền chỉ được thực hiện hành vi pháp lí ttong khuôn khổ văn bản uỷ quyền quy định. Việc xác lập văn bản uỷ quyền và giải quyết các ttanh chấp phát sinh phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng uỷ quyền.

Để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba, là người xác lập giao dịch dân sự với người đại diện, pháp luật quy định nghĩa vụ của người đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình (khoản 4 Điều 141 BLDS năm 2015). Người đại diện cũng không được thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 3 Điều 141 BLDS năm 2015). Quy định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được đại diện.

Người đại diện theo ủy quyền của cá nhân, hay pháp nhân thì xác định phạm vi đại diện căn cứ vào nội dung ủy quyền được ghi nhận trong văn bản ủy quyền. Tương ứng với tính chất và nội dung của công việc được ủy quyền mà việc ủy quyền có thể được lập thành vãn bản như giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền hoặc chỉ thể hiện dưới dạng lời nói.

Về nguyên tắc, giới hạn các quyền và nghĩa vụ mà người đại diện được phép thực hiện nhân danh người được đại diện trong những trường hợp khác nhau sẽ không giống nhau. Trường hợp không thể xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo những căn cứ nói trên thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Trong mọi trường họp, hành vi đại diện được thực hiện theo nguyên tắc - Nguyên tắc này có thể có ngoại lệ trong trường hợp giao dịch dân sự hoàn toàn làm phát sinh quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho người được đại diện; hoặc những trường họp khác theo quy định của pháp luật:

Một là, không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình;

>> Xem thêm:  Tư vấn quy định của pháp luật về hoạt động đăng ký tên miền ?

Hai là, không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba mà mình cũng chính là người đại diện của người đó.

Trong trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do người đại diện thực hiện vượt quả phạm vi đại diện, hoặc không có quyền đại diện thì hậu quả pháp lỷ được xác định theo nguyên tắc. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện hoặc được thực hiện bởi người không có quyền đại diện sẽ không xác lập cho người được đại diện. Bởi lẽ, bản chất của hành vi đại diện trong những trường hợp này đã bị phá vỡ - người đại diện khi đó không với tư cách "nhân danh” người được đại diện mà là nhân danh chính mình. Với tính chất của một quan hệ pháp luật dân sự, phần giao dịch được thực hiện do hành vi vượt quá phạm vi đại diện của người đại diện hoặc xác lập bởi người không có quyền đại diện vẫn có thể làm phát sinh hậu quả pháp lý của hành vi đại diện theo quy định. Ví dụ như trường hợp được quy định tại Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Người được đại diện công nhận giao dịch; hoặc người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời gian hợp lý.

Lúc này, hành vi của người được đại diện được hiểu là họ chấp nhận xác lập các quyền và chịu trách nhiệm về những nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch được thực hiện bởi người đại diện;

2. Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về phạm vỉ đại diện của người đại diện.

Có thể đơn cử liên quan đến trường hợp đại diện theo pháp luật của pháp nhân, theo đó, nếu pháp nhân có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật nhưng không công khai phạm vi đại diện của những người đại diện này thì hoàn toàn có thể dẫn đến khả năng nhầm lẫn của người đã giao dịch (phía đối tác) liên quan đến giới hạn các quyền và nghĩa vụ mà người đại diện có thể nhân danh pháp nhân xác lập, thực hiện. Hoặc trường hợp cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng đã chữa khỏi bệnh và yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố cá nhân mất năng lực hành vi dân sự. Lúc này, cá nhân đó quay trở về với mức độ năng lực hành vi dân sự tương ứng với độ tuổi của mình. Tuy nhiên, nếu người này không thông báo cho phía đối tác thì có thể dẫn đến tình trạng người xác lập giao dịch không thể biết việc người đại diện cho người này không còn tư cách đại diện nữa (do người mất năng lực hành vi đã chữa khỏi bệnh thì không còn cần thiết đặt ra vấn đề giám hộ đối với người này). Trong những trường hợp đó, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vẫn được ghi nhận cho người được đại diện;

3. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện hoặc người đại diện vượt quá phạm vi đại diện cỏ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện giao dịch hoặc hủy bỏ giao dịch và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu người đó chứng minh được thiệt hại).

Dĩ nhiên, trường hợp người được đại diện đã công nhận giao dịch được xác lập, hoặc người đã giao dịch biết (hoặc phải biết) về phạm vi đại diện nhung vẫn cố ý xác lập, thực hiện giao dịch thì không có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ thực hiện giao dịch nữa. Ngoài ra, trường họp người được đại diện chứng minh được rằng người đại diện (hoặc người không có quyền đại diện) và người đã giao dịch có hành vi cố ý xác lập, thực hiện giao dịch nhằm gây thiệt hại cho người được đại diện thì hoàn toàn có quyền yêu càu các chủ thể này phải bồi thường thiệt hại. Đây có thể được xác định là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra, và trách nhiệm giữa họ là trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

5. Người đại diện theo pháp luật của từng loại hình doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp

Người đại diện theo pháp luật
Doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân
Công ty hợp danh Các thành viên hợp danh
Công ty TNHH một thành viên – Trường hợp tổ chức là chủ sở hữu:

+ Công ty phải có ít nhất một NĐDPL là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

+ Trường hợp Điều lệ công ty không quy định: Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là NĐDPL của công ty.

– Trường hợp cá nhân là chủ sở hữu:

+ Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì thông thường Chủ tịch công ty sẽ là NĐDPL của công ty.

+ Công ty nên quy định chi tiết NĐDPL trong Điều lệ công ty, pháp luật không có quy định hạn chế hay chỉ định đối với NĐDPL của công ty TNHH MTV do cá nhân là chủ sở hữu.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên – Công ty phải có ít nhất một NĐDPL là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

– Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là NĐDPL của công ty.

Công ty cổ phần – Trường hợp công ty chỉ có một NĐDPL: Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là NĐDPL của công ty.

– Trường hợp Điều lệ chưa có quy định: Chủ tịch Hội đồng quản trị là NĐDPL của công ty.

– Trường hợp công ty có hơn một NĐDPL: Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là NĐDPL của công ty.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự đại diện, đại diện theo ủy quyền ... cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Thẩm định hình thức đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được quy định như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách trong trường hợp nào?

Trả lời:

- Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;

- Chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

- Bị khai trừ khỏi công ty;

- Chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.

Câu hỏi: Thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty trong trường hợp nào?

Trả lời:

- Không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai;
- Vi phạm quy định tại Điều 180 của Luật này;
- Tiến hành công việc kinh doanh không trung thực, không cẩn trọng hoặc có hành vi không thích hợp khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty và thành viên khác;
- Không thực hiện đúng nghĩa vụ của thành viên hợp danh.

Câu hỏi: Quy định về tiếp nhận thành viên mới?

Trả lời:

- Công ty có thể tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn; việc tiếp nhận thành viên mới của công ty phải được Hội đồng thành viên chấp thuận.

- Thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn phải nộp đủ số vốn cam kết góp vào công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được chấp thuận, trừ trường hợp Hội đồng thành viên quyết định thời hạn khác.

- Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thỏa thuận khác.