1. Vợ mang thai 4 tháng, muốn ly hôn có được không ?

Kính thưa luật sư Minh Khuê! Tôi hiện tại đang mang thai 4 tháng và có 1 con nhỏ 4 tuổi. tôi muốn đơn phương ly hôn thì toà có giải quyết cho phụ nữ mang thai không?

Xin cảm ơn!

Người gửi: T. Linh.

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn tại Điều 51 như sau:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. Luật Hôn nhân gia đình chỉ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai đối với người chồng. Vì vậy, mặc dù đang mang thai 4 tháng, bạn vẫn có quyền đơn phương gửi đơn xin ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; trong trường hợp hòa giải không thành thì tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

2. Tư vấn về chia tài sản chung sau khi ly hôn ?

Kính thưa luật sư! Cha mẹ tôi ly hôn cách đây 4 năm, trước khi ly hôn đã có thỏa thuận chia tài sản bằng văn bản, được xác nhận bởi chính quyền địa phương và ở ủy ban nhân dân xã,nhưng chưa ra tòa để giải quyết. Nay cha tôi về khởi kiện đòi chia đôi tài sản. Nếu vậy tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Nếu căn cứ vào thỏa thuận trước đây có đủ làm chứng cứ không?
Xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về trường hợp thuận tình ly hôn như sau:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Như vậy, theo như quy định này, khi vợ chồng muốn ly hôn và có thỏa thuận việc chia tài sản thì Tòa án sẽ công nhận việc chia tài sản của cha mẹ bạn. Tuy nhiên, việc ly hôn 4 năm trước của cha mẹ bạn lại không làm thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì về mặt pháp lý, cho đến thời điểm này cha mẹ bạn vẫn còn quan hệ hôn nhân. Vì vậy, trong trường hợp này, cha mẹ của bạn cần phải làm một bộ hồ sơ yêu cầu Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn. Theo đó, cha mẹ của bạn có thể thỏa thuận lại để phân chia tài sản chung, còn trong trường hợp không thể thỏa thuận thì Tòa án sẽ giải quyết. Lúc này, Tòa án sẽ giải quyết dựa theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, cụ thể:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

3. Tư vấn cách thức chia tài sản chung sau khi ly hôn ?

Kính gửi Luật sư!Tôi kết hôn năm 2013, đến năm 2014 vợ chồng tôi có sinh 1 bé gái. Từ lúc kết hôn vợ chồng tôi sống nhà mẹ vợ, năm 2015 tôi có mua một miếng đất góp tiền với em vợ mỗi người nửa tiền và cùng đứng tên. Bố mẹ vợ có cho mượn sổ hồng nhà vay ngân hàng 1,5 tỷ. Nếu vợ chồng tôi ly hôn thì vợ tôi có quyền chia tài sản không vì miếng đất đó cô ấy không đứng tên và cũng không góp tiền vào!

Luật sư tư vấn:

Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, theo quy định của pháp luật trên thì khi ly hôn vợ bạn vẫn được chia số tài sản này nếu bạn không chứng minh được tài sản này được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

4. Phân chia tài sản chung sau khi ly hôn như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Điều 33. Luật hôn nhân – gia đình 2014 có quy định về Tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, theo thông tin chị đã cung cấp thì mảnh đất 500m2 là tài sản được mẹ chị tặng riêng cho chị, tuy nhiên trong quá trình sang tên trong sổ đỏ thì chị đã sửa lại quyền sở hữu mảnh đất thành của hai vợ chồng, cho nên, theo quy định của pháp luật thì chồng chị và chị đều có quyền đối với khối tài sản chung đó (cụ thể là 500m2 đất). Việc chồng chị đòi chia mảnh đất là có cơ sở pháp lý và nếu chồng chị đòi chia tài sản này thì chị sẽ phải chia mảnh đất này theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Theo đó, phán quyết cuối cùng về việc chấp nhận hay từ chối yêu cầu chia mảnh đất 500m2 là thuộc về Tòa án, trừ trường hợp hai vợ chồng chị tự thỏa thuận được với nhau. Để xem xét yêu cầu đòi chia tài sản chung, Tòa án sẽ phải xem xét và dựa trên nhiều yếu tố để quyết định như: hoàn cảnh của chị, công sức của vợ chồng…

5. Phân chia tài sản chung sau khi ly hôn ?

Em rể tôi ngoại tình muốn ly hôn với em gái tôi để đòi chia tài sản. Tôi muốn biết, nếu em gái tôi không thuận tình ly hôn thì tòa có xử ly hôn bắt buộc hay không? Nếu tòa xử bắt buộc ly hôn thì trong thời hạn bao lâu? Trường hợp này là em gái tôi làm ra số tài sản đó, và hơn 30 năm nuôi chồng ăn học thành tài ?. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội thì:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo như các quy định trên, em rể bạn hoàn toàn có quyền làm đơn ly hôn đơn phương nếu em gái bạn không đồng ý. Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận đơn, Tòa án có giải quyết cho ly hôn hay không sẽ dựa trên các căn cứ thực tế về quan hệ hôn nhân của vợ chồng.

Theo điểm a, mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định rõ thêm tình trạng vợ, chồng trầm trọng khi: Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.

Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: Thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. Vợ chồng không chung thủy với nhau như: Có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình. Như vậy, nếu chồng của em gái bạn có hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, hay có bất kỳ căn cứ khác mà Tòa án xét thấy có cơ sở để giải quyết cho ly hôn thì lúc này Tòa án sẽ ra bản án cho phép ly hôn. Và ngược lại, nếu có căn cứ cho rằng em rể bạn chỉ muốn ly hôn vì lý do muốn được chia tài sản chung thì Tòa án sẽ không giải quyết.

Về vấn đề chia tài sản chung:

Trước hết, bạn cần phải xác định đối với khối tài sản của em gái bạn thì đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng dựa trên các quy định sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, Nếu em gái bạn có thể chứng minh những tài sản hiện đang có là tài sản hình thành trước hôn nhân, hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng để xác định đấy là tài sản riêng của em gái bạn, thì lúc ly hôn, em gái bạn không phải chia những tài sản đấy cho chồng cố ấy. Và ngược lại, nếu em gái bạn không thể chứng minh được đấy là những tài sản riêng của mình, thì lúc này, tài sản sẽ được chia theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

6. Chia tài sản chung sau khi ly hôn như thế nào ?

Xin chào Luật sư, em và chồng kết hôn năm 2014. Có con nhỏ 7 tháng tuổi. Do mâu thuẫn và không thể hàn gắn được nên vợ chồng em quyết định ly hôn. Vợ chồng em ly thân đến nay được gần 3 tháng. Em đã nộp đơn ly hôn, trong lần hoà giải lần 1. Anh yêu cầu toà giải quyết nhanh và đồng ý các yêu cầu về trợ cấp cho con (2 triệu đồng/ tháng), về tài sản tự thoả thuận.

Về tài sản chung, do 2 bên tự thoả thuận, trong thời gian hôn nhân, vợ chồng em dùng số tiền vàng bố mẹ em cho để mua xe (bán được 77 triệu), vay thêm ông bà ngoại 100 triệu. Mượn dì 100 triệu. Xe là tài sản chung, nhưng anh đi làm không hề đưa tiền để giúp em chăm con. Mà anh tự cất, tự tiêu. Em tự kinh doanh nhỏ nên cũng chủ động được về kinh tế. Khi em mang bầu được 8 tháng. Anh mua 1 xe ô tô khác. Trị giá 65 triệu, và sau đó bán đi với giá 60 triệu ( số tiền này sau đó gửi bà nội). Bản thân em kinh doanh nhỏ, nhưng cũng vay vốn ông bà ngoại là 30 triệu. Do không muốn kéo dài thời gian ly hôn và muốn ly hôn nhẹ nhàng cho 2 bên. Em không yêu cầu chia tài sản, hay số nợ. Em chỉ xin anh lấy lại số tiền vàng bố mẹ em mừng để làm vốn và nhận nuôi con. Ngày hoà giải lần 1 vào ngày 29/4/2016. Do em không nhận được giấy triệu tập, nên đã đến muộn.

Đến nơi, cán bộ Toà nói rằng anh đã về trước, đồng ý ly hôn và đồng ý cấp dưỡng là 2 triệu/ tháng đến 18 tuổi. Em có nên rút lại đơn để nộp lại đơn khác và yêu cầu toà chia tài sản? Nếu cháu đến 3 tuổi mà làm lại đơn yêu cầu nuôi con thì có được toà chấp thuận không? Với bản năng của một người mẹ, em yêu thương con. Và dù điều kiện khó khăn, em cũng sẽ cố gắng nuôi con. Mong nhận được hồi âm của Luật sư! Vì còn 2 ngày nữa để em quyết định việc rút lại đơn hay không.

Em cảm ơn

Trả lời:

"Điều 33, Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Vậy những tài sản hai vợ chồng bạn có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng, theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình về nguyên tắc tài sản này được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Vậy nếu hai bạn không thể thỏa thuận được vấn đề chia tài sản khi ly hôn thì có thể yêu cầu Tòa án chia đôi tài sản chung trong khi ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê