Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi tên là Nguyễn Cường hiện đang sinh sống và làm việc tại Bình Dương. Nhằm phục vụ công việc hiện tại tôi đang nghiên cứu về nguồn của luật hình sự Việt Nam trước năm 1945. Nhưng do hiểu biết có hạn tôi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu về đánh giá ưu nhược điểm của nguồn luật hình sự thời kỳ trước năm 1945. Vậy rất mong được luật sư giải đáp về vấn đề này ạ. Chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Nguồn của luật hình sự là gì?

Nguồn luật hình sự Việt Nam là phương thức tồn tại của luật hình sự Việt Nam, là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung, đồng thời là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự Việt Nam về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác dộng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.

2. Nguồn của luật hình sự trước năm 1945 là gì?

Nguồn của luật hình sự thời kỳ trước năm 1945 cơ bản gồm những nguồn sau:

- Những bộ pháp điển lớn

- Các bộ Hội điển và các đạo luật đơn hành: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh…

- Án lệ và tục lệ làng xã trong những trường hợp nhất định

- Bộ luật do thực dân Pháp ban hành

- Các văn bản luật do triều đình Huế ban hành

- Án lệ

- Lý thuyết pháp luật hình sự du nhập từ Pháp

3. Đánh giá ưu điểm và nhược điểm nguồn của luật hình sự thời kỳ trước năm 1945

3.1. Những ưu điểm của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945

Qua nghiên cứu nguồn luật hình sự Việt Nam trưốc năm 1945, có thể thấy được những ưu điểm cơ bản sau đây:

Một là, trong điều kiện lịch sử chính trị - xã hội đương thời, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945, đặc biệt là nguồn luật hình sự Việt Nam phong kiến được Nhà nước phong kiến quan tâm xây dựng và đã đạt đến một trình độ phát triển tương đối cao.

Để thấy được trình độ phát triển nguồn luật hình sự phong kiến Việt Nam, cần đặt vấn đề nguồn luật hình sự trong mối quan hệ với các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội đương thời. Có thể nói rằng, tồn tại dưới chế độ phong kiến phương Đông, luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 không có được những thuận lợi để phát triển. Nền kinh tế làm nền tảng cho xã hội Việt Nam trong suốt thời kỳ lịch sử từ lúc dựng nước đến trước năm 1945 chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Phương thức sản xuất châu Á lạc hậu không những đẩy xã hội Việt Nam vào tình trạng trì trệ, khó khăn về kinh tế mà còn làm cho cách tư duy của con người nói chung, của giới cầm quyền nói riêng hết sức bảo thủ, chỉ chăm lo bảo vệ lợi ích của cá nhân và dòng họ mình. Tư tưởng chính trị để xây dựng Nhà nước của các triều đại phong kiến Việt Nam lại là Nho giáo, đề cao đức trị, coi trọng lễ nghi giáo điều, không quan tâm phát triển khoa học. Khác với các nước phương Tây và cũng khác với Trung Quốc, học thuyết pháp luật không có chỗ đứng trong các nghiên cứu học thuật ở Việt Nam. Từ hoàn cảnh thực tế này, đối chiếu với hệ thống các văn bản pháp luật được ban hành qua các triều đại, đặc biệt là sự xuất hiện của các bộ luật lớn như Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) mới có thể thấy hết giá trị của những thành quả về mặt xây dựng pháp luật mà các thế hệ người Việt thời trước để lại là to lớn.

Sự phát triển của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 thể hiện ở những điểm sau đây:

+ Nguồn luật thành văn được coi trọng và là nguồn quan trọng nhất của luật hình sự phong kiến Việt Nam;

+ Sự xuất hiện của các bộ luật lốn, có phạm vi điều chỉnh rộng, được thiết kế một cách hợp lý, vừa có quy định chung mang tính nguyên tắc, vừa có các quy phạm quy định các tội phạm cụ thể. Việc quy định cụ thể này được các nhà làm luật phong kiến hệ thống hoá theo những tiêu chí nhất định để đưa vào các chương khác nhau của bộ luật;

+ Các văn bản pháp luật phong kiến Việt Nam, nhất là các bộ luật lớn, mặc dù được ban hành trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm lập pháp Trung Hoa nhưng vẫn phản ánh được những đặc điểm truyền thống văn hoá riêng của người Việt và xã hội Việt Nam.

Hai là, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 tương đối đa dạng về hình thức, phong phú về số lượng, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh pháp luật của xã hội đương thời.

Sự đa dạng về hình thức của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 ỏ đây chủ yếu là trên phương diện luật thành văn. Chủ thể duy nhất chính thức có thẩm quyền ban hành luật dưới chê độ phong kiến là người đứng đầu nhà nước - vị quân chủ chuyên chế. Nhà vua có thể trực tiếp ban hành luật dưới dạng các đạo luật đơn hành mang hình thức chiếu, lệnh, dụ..., hoặc có thể ra lệnh cho triều thần soạn thảo các bộ Hội điển, hay ở mức độ cao hơn là các bộ pháp điển lớn như Hình thư, Luật thư, Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ... Sự đa dạng về hình thức của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945, nhất là nguồn luật hình sự phong kiến không chỉ đơn giản là sự khác nhau về tên gọi của các đạo luật mà quan trọng hơn là sự phân biệt về mặt tính chất, quy mô, mức độ pháp điển của các đạo luật đó. Nhà nước phong kiến Việt Nam, nhất là nhà Nguyễn rất có ý thức sử dụng nhiều hình thức nguồn luật thành văn khác nhau để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đương thời, đưa các quan hệ xã hội đó vận hành trpng quỹ đạo và trật tự theo mong muốn hay lý tưởng của người làm luật.

Không chỉ đa dạng về mặt hình thức, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 còn tương đối phong phú về mặt số lượng các văn bản luật được ban hành. Ngoài những bộ pháp điển lớn, Nhà nước phong kiến còn ban hành một số lượng tương đối lớn các văn bản pháp luật hình sự đơn hành. Đa số các văn bản này, sau đó, được hệ thống lại trong các bộ Hội điển. Chỉ tính riêng dưới triều vua Minh Mệnh nhà Nguỵễn, Nhà nước phong kiến đã ban hành ít nhất bốn bộ Hội điếnMinh Mệnh chính yếu, Hội điển toát yếu, Ngự chê vần (Dụ văn) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, trong đó, bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là bộ Hội điển có quy mô rất lớn, tập hợp một cách chi tiết, khoa học, hệ thống các luật lệ của nhà Nguyễn bổ sung cho Hoàng Việt luật lệ là bộ pháp điển nền tảng của triều đại này.

Với sự đa dạng về mặt hình thức, phong phú về mặt số lượng các văn bản luật được ban hành, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 (nguồn luật hình sự phong kiến) về cơ bản đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật của xã hội đương thời, nhất là trong những lĩnh vực quan trọng mà Nhà nước phong kiến đặc biệt quan tâm như chế độ canh giữ và bảo vệ hoàng thành, cung điện, bảo vệ sự an toàn, uy tín của nhà vua và triều đình, bảo vệ sức chiến đấu của quân đội Nhà nước phong kiến, đạo đức phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến... Điều này được phản ánh tương đối rõ trong cả hai bộ luật lớn là Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long).

Ba là, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 được thiết kế theo hướng cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của người áp dụng pháp luật. Nhìn chung, các quy phạm pháp luật hình sự phong kiến được xây dựng theo hướng cụ thể hoá tối đa hành vi phạm tội để đưa ra các biện pháp chế tài xử phạt tương ứng. Chẳng hạn, Điều 466 Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) quy định: “Đánh người gẫy răng, sứt tai mũi, chột một mắt, gãy ngón chân, ngón tay, giập xương, hay lấy nước sôi lửa làm người bị thương và rụng tóc, thì xử tội đồ làm khao đinh. Lấy đổ bẩn thỉu ném vào đầu mặt người ta, thi xử biếm hai tư; đổ vào miệng mủi thì biếm ba tư. Đánh gãy 2 răng, 2 ngón tay trở lên, thì xử tội đồ làm tượng phường binh. Lấy gươm giáo đâm chém người, dẫu không trúng, cũng phải lưu đi châu gần (người quyền quý phạm tội thì xử tội biếm). Nếu đâm chém bị thương và làm đứt gân chột 2 mắt, dọa thai thì xử tội lưu đi châu xa. Nếu trong khi đương xét hỏi, người bị thương lại bình phục, thì tội nhân được giảm tội 2 bậc. Nếu đánh bị thương 2 người trở lên và nhân bị thương mà thành cố tật, hay đánh đứt lưỡi, huỷ hoại âm, dương vật, đều xử tội giảo, và phải đền tiền thương tổn như lệ định...". Xét ở một góc độ nào đó, việc xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự theo phương pháp này là một sự tiến bộ, cho phép áp dụng luật một cách trực tiếp mà không cần thiết phải đưa ra các quy định khác để giải thích luật, đồng thời cũng làm cho pháp luật được rõ ràng, minh bạch, chống sự tuỳ tiện trong hoạt động áp dụng pháp luật.

3.2. Những nhược điểm của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945

Một là, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 mang tính bảo thủ, độc đoán, thiếu dân chủ, học thuyết pháp luật kém phát triển. Được xây dựng trong bối cảnh xã hội là chế độ phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền và để phục vụ cho chế độ đó, pháp luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 mang nặng dấu ấn của sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử giữa con người với con người. Có một số lượng tương đối lớn các quy phạm pháp luật trong nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 tập trung bảo vệ quyền lợi của vua chúa, quý tộc, địa chủ phong kiến, khẳng định đặc quyền, đặc lợi phong kiến trước đông đảo người dân với tư cách là “thần dân” của nhà vua và sau này bảo vệ chế độ thực dân xâm lược. Tính độc đoán, thiếu dân chủ của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 không chỉ thể hiện trong mục đích của luật mà trong cả vấn đề thẩm quyền ban hành luật. Quyền làm luật chỉ thuộc về một nhân vật duy nhất là nhà vua. Do đó, dưới chế độ phong kiến, các quy phạm pháp luật nói chung, trong đó phổ biến và chủ yếu là các quy phạm pháp luật hình sự, không có -sự phân biệt về thứ bậc cũng như hiệu lực pháp lý. Dù là các bộ pháp điển lổn, các bộ Hội điển hay các đạo luật hình sự đơn hành (các sắc, Chiếu, Chỉ, Dụ, Lệnh), về danh nghĩa đều do nhà vua ban hành. Giữa các văn bản này chỉ khác nhau về mức độ khái quát cũng như về phạm vi, mức độ của sự điều chỉnh luật đối với các quan hệ xã hội đương thời.

Trong hệ thông nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945, học thuyết pháp lý không được phát triển. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, pháp luật chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nho giáo là nền tảng tư tưởng của pháp luật nhưng bản thần nó lại không phải là nguồn pháp luật. Các nhà soạn luật phong kiến chỉ chú tâm thể chế hoá những quan điểm, lý tưởng của Nho giáo và coi đó là “khuôn vàng thước ngọc”, không cho phép người thi hành cũng như đối tượng bị áp dụng bình luận, phân tích, bổ sung, giải thích ý nghĩa của pháp luật. Đây là một trong những hạn chế tương đối lớn của nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945.

Hai là, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 tiếp thu máy móc, rập khuôn nhiều quy định của pháp luật nước ngoài, tuy ở một chừng mực nhất định đã thích ứng chúng với xã hội Việt Nam. Sự rập khuôn pháp luật nước ngoài diễn ra qua hai giai đoạn tương ứng với hai giai đoạn phát triển lịch sử Việt Nam trước năm 1945 là giai đoạn trước Pháp thuộc và trong thời kỳ Pháp thuộc. Nếu tách phần pháp luật thời kỳ Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc hiện còn quá ít tư liệu để kết luận về nguồn pháp luật, luật hình sự từ thời kỳ Bắc thuộc cho đến năm 1883 - 1884 có sự tiếp thu, kế thừa tư tưởng pháp lý cũng như thành quả lập pháp của Trung Quốc. Sự tiếp thu, kế thừa này là hợp quy luật bởi pháp luật, xét trên phương diện văn hoá, là một nhân tố của văn hoá, còn xét trên phương diện chính trị, là phương thức cơ bản để cai trị xã hội. Cả trên phương diện văn hoá và phương diện cai trị, văn minh Trung Hoa đã đạt đến đỉnh cao của nhân loại trong suốt thời kỳ cổ trung đại nên pháp luật Việt Nam có nhiều quy định tương tự như Trung Quốc là điều tất yếu. Tuy nhiên, sự học tập kinh nghiệm Trung Hoa của nhà soạn luật Việt Nam, trong nhiều trường hợp mang tính máy móc, rập khuôn, không thực tế và không phải lúc nào cũng phù hợp với đặc điểm trạng thái xã hội Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, đã chứng minh điều này.

Đến thời kỳ Pháp thuộc, do chính sách đàn áp bóc lột và chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp đối với người dân Việt Nam nói riêng, người dân ba nước Đông Dương nói chung, chính quyền thuộc địa đã ồ ạt “nhập cảng” pháp luật chính quốc vào Việt Nam, trực tiếp dụng luật Pháp (trên cơ sở cắt xén, loại trừ những yếu tô' tiến bộ của pháp luật tư sản) trên phần lãnh thổ Nam kỳ và một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Do sự cưỡng bức áp dụng, sự xa lạ với truyền thông Việt Nam và chủ yếu mang tính chất đàn áp nên các quy phạm pháp luật thuộc nguồn luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn này hầu như không có ý nghĩa nào đối với sự phát triển chung của nguồn luật hình sự Việt Nam. Ngược lại, với sự xuất hiện của yếu tố nguồn mới này, luật hình sự Việt Nam đã hoàn toàn bị cắt đứt khỏi truyền thống phát triển hơn 1000 năm lịch sử, tạo một “hố sâu” ngăn cách nguồn pháp luật hình sự Việt Nam hiện đại với nguồn luật hình sự Việt Nam trong quá khứ.

Ba là, nguồn luật hình sự Việt Nam trước năm 1945 trong nhiều trường hợp bị hạn chế về hiệu lực thực tế, còn bị đặt dưới các tập quán địa phương. Luật hình sự Việt Nam sau thời kỳ phát triển đỉnh cao vào thế kỷ XV, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, như các yếu tố khác trong đời sống xã hội chịu sự tác động, ảnh hưởng của cuộc nội chiến phân liệt giữa các tập đoàn phong kiến. Ghi nhận lại tình trạng này, vua Gia Long, trong bài Tựa của Hoàng Việt luật lệ đã viết: “kỷ cương phép nước rối loạn chìm đắm, gian manh xảo trá hoành hành...”. Mong muốn khắc phục nhanh chóng tình trạng này, vị vua đầu triều Nguyễn đã thúc đẩy việc soạn thảo và ban hành một bộ luật mới của nhà nước - Bộ luật Gia Long. Tuy nhiên, do Luật Gia Long được ban hành quá gấp và với tư tưởng sùng ngoại thái quá nên như tác giả Vũ Văn Mẫu nhận xét “bộ luật ấy như một bộ áo Tàu may cho một người dân Việt, để phục sức trong xã hội Việt Nam”. Với tình trạng nguồn này, nhiều quy định của pháp luật (hình sự) Việt Nam trước năm 1945 chỉ mang tính lý thuyết mà ít có hiệu lực trên thực tế.

Mặt khác, trong xã hội Việt truyền thống, do tính chất tự cấp tự túc, người dân Việt ít khi đi ra khỏi làng xã. Nhà nước phong kiến thực hiện chức năng cai trị thông qua hệ thống sai dịch làng, xã và người dân nhìn nhận sự tồn tại của Nhà nước - quốc gia phong kiến qua sự tồn tại của làng, xã nơi họ cư trú. Do đặc điểm này, người dân Việt ít biết đến pháp luật của Nhà nước. Pháp luật, trong cách nhìn của họ là “lệ làng”, là những tập quán địa phương. Điều này đưa đến hai hệ quả: 1) Làm giảm bớt tính độc đoán, thiếu dân chủ của pháp luật hình sự phong kiến - Hệ quả tích cực; 2) Phần nào làm giảm hiệu lực cũng như đưa đến tình trạng thiếu thống nhất của pháp luật phong kiến do bị chi phối bởi yếu tố địa phương.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Đánh giá ưu điểm và nhược điểm nguồn của luật hình sự Việt Nam thời kỳ trước năm 1945". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập