1. Đánh người cướp tài sản có phạm tội không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi đang ở trong nhà thì bất ngờ có một người lạ mặt từ ngoài đường chạy vào sân nhà tôi dắt xe máy của tôi. Thấy vậy tôi liền chạy ra yêu cầu họ xuống xe. Tuy nhiên người này lại đánh vào mặt tôi, trước tình thế đó tôi lùi lại thì người này xuống xe và tiếp tục đánh tôi. Tôi bị đánh nên đã cầm chiếc ghế nhựa ở sân đánh họ. Vì vậy mà mặt họ có hai vết đứt dài khoảng 4 - 5 cm và tôi cũng bị xước da mặt. Hiện nay cơ quan công an bảo rằng tôi phạm tội cố ý gây thương tích.
Vậy Luật Minh Khuê cho tôi hỏi tôi có phạm tội không?

Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp tôi nhận thấy có hai tình tiết cần chú ý:

- Người lạ mặt vào nhà bạn dắt xe:

Trước tiên tôi thấy rằng bạn với người này không có mối quan hệ gì. Cho nên việc họ vào nhà bạn dắt xe cần phải làm rõ mục đích: mục đích chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có mục đích chiếm đoạt tài sản mà sau đó người này có đấm bạn thì họ đã phạm tội cướp tài sản. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội cướp tài sản như sau:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Như vậy, mặc dù ban đầu người này chỉ lén lút chiếm đoạt tài sản của bạn nhưng sau đó họ lại dùng tay đấm thì tội danh của họ chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản thành tội cướp tài sản.

- Bạn đánh người lạ mặt này khi họ đánh bạn:

Như đã đề cập, người này có đánh bạn không chỉ một lần mà hai lần nên bạn đã dùng ghế đánh người này. Xét theo hành vi nhận thấy, hành vi của bạn là phòng vệ chính đáng. Tức là họ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bạn nên bạn bắt buộc phải dùng vũ lực để chống trả lại.

Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Điều 22 xác định phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm tuy nhiên hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ là tội phạm. Theo đó, nếu thương tích mà bạn gây ra cho họ mà tới 31% thì bạn sẽ phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Điều 136. Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Như vậy nếu thương tích dưới 31% thì bạn sẽ không phạm tội. Từ đó khẳng định Cơ quan công an địa phương bạn trả lời như vậy là chưa có cơ sở.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

2. Thuê người đánh hội đồng thì phạm tội gì ?

Thưa luật sư, Vì mâu thuẫn nhỏ trên game 1 bạn nữ đòi hẹn cháu ra gặp nhưng bạn ấy lại thuê người đánh hội đồng cháu, vì có bạn nói trước nên cháu đã không đến, khi về cháu nhận được lời thách thức và đe dọa của người tự xưng là anh trai của bạn ấy và hẹn cháu ra gặp, cháu biết ra sẽ bị đánh hội đồng nên đã không đồng ý.
Nay người xưng là anh trai đăng hình và trang cá nhân của cháu lên facebook để tìm cháu và đe dọa "xin huyết" của cháu, vậy cho cháu hỏi có luật nào bảo vệ cháu ngay bây giờ không? Cháu nên làm gì để bảo vệ bản thân mình ngay từ lúc này? Là sinh viên sống xa nhà và ở trọ nên hiện cháu rất lo lắng về việc ổn định sinh hoạt, học tập ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Nghị định 72/2013/NĐ- CP quy định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng theo điểm b Khoản 1 Điều 5 về các hành vi bị cấm:

“Điều 5. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;”

Nhà nước ta nghiêm cấm việc lợi dụng internet và dịch vụ thông tin nhằm vào mục đích tuyên truyền, kích động, đe dọa bạo lực, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc người đó có hành vi tìm kiếm, đưa ra lời lẽ đe dọa bạo lực bạn trên facebook có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông:

“Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”

Ngoài ra, Điều 133 Bộ luật hình sự quy định về Tội đe dọa giết người như sau:

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Hành vi đe doạ giết người thể hiện bằng lời nói, hành động như tuyên bố bằng lời, viết thư, vẽ hình hoặc đe doạ bằng súng, dao, gậy... Hành vi đe doạ giết người có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đối với người bị đe doạ. Hành vi dù là trực tiếp hay gián tiếp đe doạ nhưng phải làm cho người bị đe doạ tin rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết họ, nên lo lắng, sợ sệt. Căn cứ để xác định mức độ đe doạ nguy hiểm đối với nạn nhân là:

- Nhân thân của người đe doạ và người bị đe doạ.

- Thời gian, hoàn cảnh, địa điểm cụ thể, nguyên nhân xảy ra khi có hành vi đe doạ giết người.

- Sự tương quan về sức lực, lực lượng giữa người đe doạ và người bị đe doạ.

- Sự thay đổi tâm sinh lý và hoạt động của người bị đe doạ như: lo sợ, kém ăn, kém ngủ, không dám đi làm, đi đêm...

Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu bạn nhận định rằng việc tìm kiếm bạn trên facebook nhằm mục đích đe dọa giết bạn và việc này khiến bạn lo sợ, kém ăn, kém ngủ, không dám đi học,… thì bạn có thể tố giác đến cơ quan công an quận/huyện về hành vi đe dọa giết người. Đây cũng là một biện pháp bảo vệ bạn tại thời điểm hiện tại.

Trân trọng cảm ơn,

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

3. Bảo lãnh cho người đã đánh mình có được không ?

Thưa luật sư, Vào đêm 2/9 anh trai em đi ăn đêm khi ra khỏi quán ăn có bị một nhóm thanh niên đánh và gây thương tích ở vùng đầu, ngực và vai trong nhóm đánh có một người đã đến xin lỗi và nhận bồi thường thiệt hại cho anh trai em.
Vậy Luật sư cho em hỏi gia đình nhà em có thể bảo lãnh cho người đã đánh anh trai em không còn những người còn lại vẫn chưa tới xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho anh trai em. Vậy luật sư cho em hỏi gia đình nhà em có được truy tố những người còn lại không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì Bảo lĩnh mà bạn gọi là Bảo lãnh là Biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam, nhưng phải có điều kiện là tuy theo tính chất mức độ nguy hiểm do hành vì phạm tội. Trong trường hợp này là bao nhiêu phần trăm thương tật và nhóm Phạm tội đó tổ chức, có động cơ thế nào và điều quan trọng là không phải ai cũng có quyền Bảo linh mà nếu là cá nhân Bảo lĩnh thì chỉ những người thân thích của Người bị tạm giam mới có thể đề nghị được Bảo lĩnh người bị tạm giam. Vì vậy, Gia đình bạn không thuộc trong số người có thể đề nghị Bảo lĩnh được. quy định cụ thể như sau:

Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

Còn về việc Bạn hỏi Gia đình bạn có truy tố những người còn lại hay không thì Tôi xin được trả lời:

- Thứ nhất là không vì gia đình bạn không phải Viện kiểm sát nên không có quyền truy tố bị can;

- Thứ hai, Nếu trường hợp phạm tội theo Bộ luật hình sự 2015 thi Anh của bạn có quyền rút yêu cầu khởi tố đối với hành vì của cả nhóm mà không được đối với một số người trong nhóm vì đây là trường hợp khởi tố vụ án có tất cả các người đồng phạm theo điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Bạn cần kiểm tra quyết dịnh khởi tố vụ án xem Cơ quan điều tra khởi tố theo khoản nào của điều 104 Bộ luật hình sự để xem xét có hay không rút đơn yêu cầu.

>> Xem thêm:  Điều kiện để được đề nghị đặc xá, giảm án ? Hồ sơ xét đặc xá ?

4. Hành vi đánh trả khiến người khác bị thương

Thưa Luật sư, nếu A đe dọa đòi đánh B. A đã tiến hành hành vi đánh, ném đá không gây thương tích nặng cho B ( B không bị sao) nhưng B dùng dao đâm lại A làm A bị thương lủng phổi. Vậy trong trường hợp này pháp luật giải quyết như thế nào ạ? Người A sinh năm 1998, người B sinh 1995 ?
Xin cảm ơn!

>> Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về hành vi của A :

Để xem xét hành vi cấu thành tội Cố ý gây thương tích hay không phải xem mức độ thương tật mà A gây ra cho B. Theo quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự 2015

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
...
22. Sửa đổi, bổ sung Điều 134 như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Nếu A coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, càn quấy, bất chấp sự can ngăn của người khác, chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt, nhưng cũng cố tình gây sự để đánh B thì dù thương tích dưới 11% A cũng có thể bị truy tố về tội này.

Thứ hai, về hành vi của B:

A là người có hành vi đe dọa và đánh B trước. A đã ném đá B nhưng không gây thương tích. Mức độ nguy hiểm của hành vi ném đá vào B không đáng kể và hành vi của A đã kết thúc sau đó B mới dùng dao đâm vào A cho nên, hành vi của B không được coi là hành vi phòng vệ.

Hành vi của B dùng dao đâm lủng phổi A rõ ràng là chống trả quá mức cần thiết cho nên B có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo điều 135 Bộ luật hình sự 2015

Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định về người mất năng lực hành vi dân sự? Người bị tâm thần đánh người thì có bị xử phạt hay không?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?